CHUYỆN MỘT NGƯỜI
CHA
{
Hai cha con anh đến thuê một phòng ở nhà
tôi. Căn phòng lẹp xẹp thôi: nền xi măng, trần cót, mười mét vuông, ba trăm
ngàn đồng một tháng. Hỏi nghề nghiệp, anh ngần ngừ rồi nói:
- Dạ, có việc gì làm nấy! Thường thì đi
phụ hồ và chạy xe ôm!
Vợ tôi ngại ngùng muốn từ chối. Hai cha
con đứng tần ngần ngoài cổng. Đồ đạc vẻn vẹn có mấy cái bọc cột và treo toòng
teng trên chiếc xe SUZUKI tả tơi, khổ hạnh không kém gì cha con người chủ. Tôi
từ trong nhà ra, anh mạnh dạn bước đến gần tôi như năn nỉ:
- Thưa ông anh, bà chị! Thằng con lớn em
trúng vô Đại học, em từ miền Trung đưa cháu vô đây, vừa trông cháu, vừa tìm
việc làm để nuôi cháu học hành. Em thấy nhà đây vắng vẻ, yên tĩnh, em muốn xin
ông anh, bà chị cho được ở đây !
Người cha chừng năm mươi tuổi, cậu con
chừng mười tám đôi mươi. Cả hai cha con vẻ khắc khổ. Người cha thì rụt rè,
người con thì nhút nhát. Tôi xem giấy tờ, đủ cả: chứng minh nhân dân, giấy phép
tạm vắng, giấy nhập học cho con vào Đại học theo ngành Nông nghiệp. Tôi nói với
vợ tôi:
- Thôi, cho người ta ở !
Ngày nào cũng vậy, cứ khoảng 4 giờ sáng
là người cha dắt xe ra đường đón khách. Tiếng xe máy động cơ hai thì lạch bạch
như tiếng xe lam, lúc sớm nghe vang rền cả xóm. Chừng 6 giờ, anh quay về đưa
con đi học, rồi kiếm những công việc phụ nay đây mai đó. Gần tối, hai cha con
chở nhau về với ít đồ ăn mua từ chợ. Ăn vội vã mấy miếng cơm nguội, người cha
lại dắt xe ra đón khách ngoài đường, cậu con học bài và nấu ăn.
Tới 9-10 giờ đêm, hai cha con mới ăn bữa
chính trong ngày. Chủ nhật, cậu con dọn dẹp quanh quẩn trong nhà và cặm cụi học
bài. Hai cha con sống yên lặng, âm thầm, trật tự, không làm ảnh hưởng đến ai.
Dăm tháng sau, sáng hôm ấy, gần đến giờ
đi làm mà tôi vẫn thấy chiếc xe phủ miếng nilon để ở góc sân, cậu con trai mắt
sưng đỏ hoe! Tôi thắc mắc hỏi:
- Hôm nay ba con không đi làm sao ?!
- Dạ, ba con bệnh!
- Con có chuyện gì?
- Chắc là con không học nổi đâu! Nhà
trường hối thúc đóng tiền. Ba con làm quần quật vẫn thiếu. Nay đổ bệnh, chắc
không chịu nổi!
Tôi bước vào thăm anh. Anh nằm trên
chiếc nệm dưới lót bìa carton ở một góc phòng. Người anh nóng hừng hực mà lại
rét run lên. Chắc là anh sốt rét! Tôi lên nhà lấy thuốc gia đình đem xuống cho
anh. Anh run rẩy cám ơn. Cậu con đỡ anh ngồi dậy uống thuốc. Tôi để lại thêm
liều thuốc nữa và vội vã đi làm.
Chiều về, tôi ghé thăm anh ngay. Anh đã
tỉnh. Hai cha con ngồi đó, buồn so! Cậu con chừng muốn khóc! Anh nói trong hơi
thở còn yếu, vừa như muốn phân trần với tôi, vừa như để khuyên con:
- Cảm ơn bác, em bớt rồi! Em buồn thằng
con em không có chí. Mới khó khăn một chút nó đã nản lòng, đòi về. Xưa kia vì
thời thế, ba lỡ làng, học hành chẳng được đến đâu. Giờ mình nhục! Con khổ! Đời
cha đã vậy, đời con đành chịu vậy sao?
Cậu con thối chí, giãi bày:
- Con thấy học vậy cũng đủ rồi! Thiếu gì
người học hành là mấy mà họ đâu có cực! Con thương cha vất vả thế này, chịu
được mấy lâu? Nhà mình có ông nội là liệt sĩ, cha là thương binh, về địa phương
chắc con cũng kiếm được việc làm, còn lo được cho các em nữa! Chỉ có má với ba
em ở nhà cũng quýnh quáng chớ sướng chi?!
Tôi nhìn người cha với lòng cảm mến. Thì
ra anh cũng từng là lính như tôi. Nhưng trong người anh còn mang thương tật!
Anh nhìn con vừa nghiêm nghị, vừa yêu thương:
- Cái gì cũng phải trả giá cả, phải chấp
nhận thôi! Chỉ trừ phi ba chết, sống thế nào lúc đó tùy con. Chớ ba còn đây, ba
không chịu để con hèn kém đâu!
Anh ngừng một lát để thở. Cậu con mắt
chớp chớp…
- Ở đời, mỗi người phải biết tự lo cho
mình, đừng trông chờ vào ân huệ của ai. Ông bà ta vẫn dạy: “Nhân bất học, bất chi lý”! Tuy rằng có
người ấu ham học mà lão vẫn hàn vi. Nhưng cái hàn vi của người có học với kẻ vô
học nó không giống nhau đâu, con ạ!
Cậu con nại lý :
- Cực quá, con học cũng chẳng bằng ai!
Tôi thấy trên gò má gầy guộc của anh lăn
xuống hai dòng nước mắt. Anh từ tốn động viên con:
- Đời này thông minh xuất chúng được mấy
người? Phần lớn “cần cù bù thông minh” thôi! Cứ chịu khó đi, có công mài sắt có
ngày nên kim, cổ nhân nói chẳng sai đâu! Không có tài thì nghèo. Không có chí
thì hèn. Cái tài luyện dần được. Cái chí rèn mới khó. Có tài mà không có chí
thì không thành cơ nghiệp. Xưa, ba ốm tong teo, nhút nhát. Vào bộ đội, làm đại
đội trưởng đặc công, đánh giặc cả tỉnh nể mặt! Có chí thì nên. Ráng lên, con ạ!
Cậu con im lặng...
Tối hôm ấy, tôi bàn với vợ tôi. Sáng hôm
sau, vợ tôi nói với anh và cháu:
- Cô có hai em đang học phổ thông: đứa
lớp Sáu, đứa lớp Tám. Ngoài giờ học, cháu kèm hai em giúp cô. Coi như cô không
lấy tiền nhà !Anh cảm ơn rối rít.
Từ đó quan hệ giữa gia đình tôi và cha
con anh trở nên gần gũi. Các con tôi cũng nể và mến con anh.
Ít lâu sau, anh sắm cho cậu con trai
chiếc xe đạp cà tàng. Hai cha con bớt lệ thuộc vào nhau. Anh có điều kiện tung
hoành, bương chải. Cậu con cũng dạn dĩ dần lên. Tôi
và anh có cái gì đó như là sự thông cảm giữa hai người lính. Một lần tôi nói
thật với anh:
- Tôi thấy ý con ông cũng đúng. Sao
không kiếm cho nó một việc gì làm, rồi anh em nó dắt díu nhau. Chớ tôi thấy ông
cực quá!
Anh tâm sự:
- Cái gì mình ráng được là mình cứ làm.
Cả tài sản bán đi chỉ tậu được con ngựa SUZUKI già yếu này. Phải có cái chi làm
đà cho chúng nó. Đầu xuôi, đuôi lọt bác ạ. Đời mình thôi có kể chi!
Tôi hỏi anh sao không cho cháu theo một
ngành nào khả dĩ hơn? Anh nói thật thà:
- Mình là nông dân, phải thực tế thôi.
Thứ nhất là cháu học ỏ quê, vào loại trung bình, thi vào mấy ngành khó, chưa
chắc đã qua. Rồi nữa, khi ra trường, sức mình không lo nổi cho nó một chỗ làm.
Mình nhà nông, nó về quê, không làm được ở tỉnh thì về huyện, về xã. Đất đấy,
lại có tay nghề, mặc sức mà làm!
Tôi nói rỡn anh:
- Cái xứ miền Trung nhà ông trồng trọt
cái gì ?!
Vẻ đăm chiêu, anh nói:
- Mình chiến đấu bảo vệ quê hương. Quê
hương được giải phóng rồi, ai cũng bỏ nó mà đi, để đất ruộng trơ sỏi cát thì
giành lại mần chi? Đói rách vẫn hoàn đói rách. Tôi nghĩ rằng mình chưa tìm được
loại cây thích hợp cho đất đó thôi. Ở trên đời này chẳng có cái chi là vô ích
cả! Không trồng được lúa thì mình trồng cây khác. Đất nào, cây nấy bác ạ!
Tôi cười tán thưởng:
- Thì ra cha con ông định cải tạo quê
hương đấy!
Anh nói vẻ nghiêm trang:
- Quê hương của mình, đất đai của mình,
mình chết vì nó, sống nhờ nó. Vậy mình không cải tạo nó thì làm sao mà ngóc đầu
lên được?
Tết năm đó, hai cha con anh không về
quê. Tôi thấy ái ngại. Anh nói vẻ tự nhiên của người quen chịu đựng:
- Dành dụm được một ít, để gởi về cho mẹ
con nó ở nhà. Vợ chồng, con cái ráng lên mỗi người một chút, rồi tất cả sẽ qua
thôi!
Tôi nhớ lại cuộc đời người lính, lúc nào
cũng phải ráng lên. Với anh, cởi được chiếc áo lính ra rồi, vẫn còn phải ráng!
Thời gian thắm thoát thoi đưa. Xuân đi
rồi xuân lại tới. Tết này qua, tết khác lại qua. Suốt bốn năm trời, tiếng con
ngựa già SUZUKI lạch bạch đi về đã thành tín hiệu giờ giấc quen thuộc trong xóm
nhà tôi. Tôi lu bu vì sinh kế, có lúc giật mình không nhớ là đã phải nhuộm tóc
từ lúc nào...
Một tối, cha con anh lên nhà chào vợ
chồng tôi. Nét mặt hai người đều rạng rỡ:
- Xin nói để hai bác mừng cho: Cháu nó
đã tốt nghiệp. Mai xin phép hai bác cho cha con em về quê. Cảm ơn hai bác đã
giúp đỡ cho cha con em bớt được khó khăn. Em cứ nghĩ ở hiền, gặp lành, bác ạ!
Chúng tôi chia sẻ niềm vui với cha con
anh. Anh dặn hờ tôi:
- Đứa thứ hai nhà năm nay xong Trung
học. Nếu cháu học được, vào đây, cha con em lại đến xin nhờ bác!
Tôi đùa với anh :
- Ông đẻ nhiều quá, cứ kéo cầy hoài,
chịu sao thấu?
Anh nói nửa chơi nửa thật:
- Mình sai thì mình phải gồng mình lên
mà chịu thôi, trách ai? Nhưng nói thật với bác: ánh sáng văn minh có chiếu rọi
đến vùng quê hẻo lánh cũng chỉ vài tia le lói, làm sao mà bảo chúng tôi phải
biết sống theo khoa học? Chung qui cũng chỉ vợ chồng chia sẻ với nhau nỗi buồn,
vui và những cay đắng, ngọt bùi. Vả lại người giàu, dù chỉ đẻ một, hai con vẫn
cầm chắc đậu. Dân quê nghèo chúng tôi còn tính chuyện nó thui chột nữa. Với lại
nghèo mà có anh có em thì nó cũng đỡ đần, gồng gánh được cho nhau, mình già đỡ
cực!
Sáng hôm sau, cả nhà tôi ra cổng tiễn
cha con anh về quê vinh qui bái tổ. Người
cha thì vẫn hom hem như hồi mới tới và tóc anh bạc nửa mái đầu. Cậu con
trai cao lớn, phổng phao tuy vẫn in cái nét mặt xương xương hiền hậu của anh
sinh viên nghèo từ quê lên thành phố học. Đồ đạc cũng vẫn gọn gàng, thêm chiếc
xe đạp tháo ra ràng cột chặt sau xe. Chiếc SUZUKI nổ máy lạch bạch, phả khói um
tùm. Các con tôi vỗ tay hoan hô như một tràng pháo mừng sự thành đạt của cha
con người lính...
Gần năm sau, vào sớm chủ nhật, một cô gái
rụt rè bấm chuông cổng nhà tôi. Các con tôi nhận ra chiếc xe đạp của anh gia sư
dễ mến ngày nào. Tôi ngờ ngợ, để ý trên ve áo cô có chiếc băng tang! Tôi chột
dạ, linh cảm rõ rệt một điều gì. Cô chào tôi, ngập ngừng:
- Ba cháu đem anh cháu vào đây, trọ học
mấy năm ở nhà bác. Hôm nay cháu đến chào các bác!
Tôi không dám hỏi về anh vì điều linh
cảm của tôi như được khẳng định khi trên nét mặt của cô gái cứ như dần tối
lại...
- Ba cháu ở trong này ra, vài tháng thì
ngã bệnh: người cứ rạc đi mà bụng thì trướng lên. Ba cháu tham việc quá! Đến khi thấy hai con
mắt vàng ợt mới chịu đi bệnh viện thì đã muộn.
Bác sĩ bảo là xơ gan cổ chướng!
Ba cháu đòi về nhà, uống thuốc nam. Được ít lâu thì…
Cả nhà tôi ai nấy lặng thinh. Nhớ đến
anh, tôi nghĩ đến hình ảnh của người cha tận tụy một đời. Tôi an ủi cô:
- Ai cũng vậy, cá chuối đắm đuối vì con
cháu a.
Cô gái ngồi đấy, đôi mắt u buồn chớp
chớp. Con gái tôi đến ngồi bên cô, như muốn chia sẻ nỗi buồn với người chị
không may.
- Cháu đang học năm thứ nhất Trường Đại
Học Sư Phạm. Nhờ có tiêu chuẩn gia đình thương binh, liệt sĩ, cháu được học
bổng và được ở trong ký túc xá của trường. Anh cháu đã có việc làm ngay tại
huyện nhà nên cũng giúp được mẹ cháu lo cho các em!
Sâu xa trong
lòng, tôi nghĩ về anh: là người cha cũng là người lính. Khi đã rõ mục tiêu rồi
thì sẵn sàng dấn thân, không nghĩ đến mình....
TÀI
HOA TRẺ
Số
255 ngày 19 / 3 / 2003
No comments:
Post a Comment