BÀ HOÀNG CÔ ĐƠN
Tặng bạn tôi NQL
Ngôi làng dưới
chân núi Chùa.
Lễ đón hài cốt liệt sỹ về quê hương được
tổ chức trang trọng theo đúng nghi thức nhà nước quy định.
Trong tấm áo tiểu sành phủ cờ tổ quốc là
hài cốt người đại đội trưởng năm xưa của tôi: Liệt sỹ Nguyễn Quý Yên.
Bởi mấy trang nhật ký của tôi được một
tờ báo đăng tải đã góp phần để gia đình tìm được hài cốt thân nhân hy sinh tại
chiến trường Quảng Trị bi hùng mà câu thơ của một người lính năm xưa cứ nhoi
nhói trong lòng bao thế hệ: “Đò xuôi Thạch Hãn bơi nhè nhẹ/ Dưới đáy dòng sâu
bạn tôi nằm!”, nên tôi được gia đình giữ lại mấy ngày và dành cho những tình
cảm đậm đà nồng ấm như người trong nhà. Cũng là dịp tôi được vãn cảnh chùa lại
có người chính xứ hướng dẫn tận tường chứ như khách thập phương thì khó lòng
được biết nhiều như thế.
Trong ngôi nhà gạch tuyềnh toàng đủ để
che nắng che mưa, trước tôi là một bà vào tuổi lục tuần có phần khắc khổ, vóc
người thanh mảnh, cái miệng tươi bỏm bẻm nhai trầu, bước đi còn nhanh và vững
nhưng giọng nói lại chậm và khóe mắt ươn ướt mỗi khi nói đến điều gì xúc động.
Cậu con trai chừng giữa tuổi hai mươi
phóng ào chiếc xe máy dựng giữa sân, nhảy lên thềm bước vội vào nhà. Thấy khách
cậu ta khựng lại. Bà chủ giới thiệu:
- Thằng con tôi!
Cậu lễ phép cúi chào, bước vào phòng sau
và quay ra ngay thêm cái túi khoác trên vai, hấp tấp nói mấy câu gì đó như để
thanh minh với mẹ hay là với khách rồi đi như chạy ra sân, lên xe phóng vọt đi.
- Cháu mới xin được việc làm, lúc nào
cũng vội vội vàng vàng cập rà cập rập như đạp phải lửa! – Bà chép miệng lắc đầu
lộ trong ánh mắt xót con lắm.
Tôi ngước nhìn lên tấm ảnh thờ người thủ
trưởng của tôi tuổi cũng chừng cậu trai này và nhớ lại thời gian chúng tôi sống
chết bên nhau tới hơn năm dòng, đôi lúc tâm sự anh Yên cứ ấm ức: “Chả hiểu sao
mà mỗi dịp được về gặp vợ tớ đã ra công “đổ nước” và cô ấy hưởng ứng nhiệt tình
lắm mà cũng chẳng ăn thua gì?!”. Nói đến “đổ nước” thì người lính nào từng qua
Tây nguyên cũng hiểu. Rõ ràng là con người trong ảnh với cậu trai này chẳng có
nét gì ăn nhập với nhau ngoài nước da trắng chắc là của mẹ. Hẳn là cái nhíu mày
của tôi dù cố ý kín đáo nhưng không qua được con mắt của người góa phụ vào tuổi
mãn chiều. Bà không cần giấu và cứ để những giọt nước mắt chảy ra thành dòng và
nhẩn nha kể chuyện đời mình ý cho khách hiểu ngọn nguồn:
“Lúc cưới nhau, anh ấy mười chín, tôi
mười bảy. Mấy người có giấy gọi đi làm nghĩa vụ cả làng đều biết thì còn ai bắt
bẻ điều gì. Vả lại “đất lề quê thói”, đâu chỉ có mình anh ấy thế. Cha anh độc
đinh, lúc cưới nhau ông bà đều chưa tròn tuổi trăng rằm. Anh là trưởng gia, lại
là trưởng tộc nữa. Cả làng này, tộc họ Nguyễn Qúy là kỳ cựu và đông nhất, từ
thôn Hạ qua thôn Trung lên thôn Thượng đều có người họ nhà này. Cưới rồi lại ai
làm việc nấy chớ đâu có cái “tuần trăng mật” như các cô cậu thời nay. Được dăm
bữa nửa tháng thì các anh lên đường. Cả làng ra tiễn. Lúc ấy chiến tranh còn ở
mãi đâu nên được gọi vào bộ đội phải là thanh niên ưu tú lắm. Kẻ ở người đi dù
lưu luyến bịn rịn mấy, trong dạ buồn thiu mà miệng vẫn phải cười, tay vẫy lia
lịa như vui vẻ lắm. Chỉ những lúc vò võ thâu đêm nước mắt mới chảy tràn ướt
gối. Mấy năm đầu, anh đóng quân gần nhà, năm nào cũng được về phép mà ban ngày
anh tranh thủ giúp việc đồng áng, chỉ lúc về đêm vợ chồng mới tâm sự đôi điều.
Gia đình anh gia phong nền nếp lắm và vào hàng khá giả trong làng, có nhà trên
thành phố gởi con lên học, so với nhà mình chỉ bằng một góc thôi nên được vào
làm dâu nhà người ta là điều mơ ước của khối người. Trong họ ngoài làng người
mừng cho mình cũng có mà người không ưa không thích mình cũng chẳng ít đâu!
Thói đời, nỗi mừng để thầm trong dạ được lâu nhưng cái tật ghen ăn ghét ở thì
chẳng thể giữ yên trong bụng mãi. Ra đường, đàn bà con gái miệng bắt chuyện sởi
lởi liên hồi mà mắt cứ chằm chằm nhìn vào bụng mình đến sởn gai ốc lên. Con gái
quê ngày đó lấy chồng thì điều mong ước duy nhất là khả năng sinh con đẻ cái.
Cứ mỗi lần chồng về là bụng mừng quýnh lên muốn quấn quýt nhưng vẫn phải giữ
kín đáo bề ngoài. Lúc ra đi thì chồng trước vợ sau dù là đôi chân mỗi lúc một
nặng như chì… Cho đến khi cái ba lô trên lưng người đi khuất sau con đê quai
sông máng ngoài kia thì người ở vẫn còn nán lại, đứng mãi ngẩn ngơ, thẫn thờ
quay trở về nhà đếm từng bước một mà lòng thì vừa buồn vừa lo ngay ngáy!... Mấy
năm sau, chiến tranh mở rộng, trai làng ra đi mỗi lúc một đông. Mấy ụ pháo
phòng không đắp dọc theo đê. Dăm ngày lại có máy bay gầm rít trên đầu nghe mà
rợn dọc suốt từ gáy tới lưng. Có lúc hàng chùm bom dội xuống rung chuyển khắp
làng, đào thành những hố rộng như cái giếng chùa ngay giữa cánh đồng. Có lần
mấy quả tên lửa bắn vào làng, nhà cháy, người chết, náo loạn cả lên! Từ đó anh
đi biền biệt, lâu lâu mới nhận được một lá thư, đọc mãi không chán tưởng như
chồng đang tỉ tê nói chuyện với mình, chợt nhìn ngày gửi đề từ dăm tháng nửa
năm về trước thì lòng dạ lại xót xa thương nhớ bồn chồn! Mấy người lên đường
một lượt với anh, cùng cưới vợ một ngày, có người đã có con rồi. Lúc ấy nỗi lo
nhường cho nỗi sợ! Ông thì suốt ngày thẩn thơ khắp làng, khi về ngồi lặng trên
tấm phản giữa nhà ôm khư khư cái điếu, lâu lâu rít lên từng hồi nghe thấp thỏm
như còi báo động! Bà thì quẩn quanh vườn sau sân trước, lúc mệt nhoài ngồi đầu
hè gỡ nón ra quạt quạt và thở dài thườn thượt nghe càng nẫu ruột. Mỗi khi có cô
chú học trên thành về thì nhà mới ồn ào vui lên một chút rồi là đâu lại vào đấy
thôi. Trong nhà ba con người như ba chiếc bóng, không người nào dám nhìn thẳng
vào nhau. Không ai làm điều gì đáng để người kia phiền trách. Nhưng xem trong
dạ ông bà chỉ mong có một điều mà cứ âm thầm thất vọng! Chả biết tội ấy tại ai?
Mình còn mong mỏi ước ao gấp mấy mươi
lần ấy chớ. Hết lòng hết sức chiều chồng lắm chớ. Lại càng tủi thân tủi
phận! Đã thế tiếng xì xầm to nhỏ từ ngoài đường làng ngõ xóm lan vào tới sân
nhà nọ nhà kia: “Các anh chị bây giờ tân tiến lắm!... Son rỗi càng trẻ lâu!...
Xưa nay chinh chiến mấy ai về, dại gì mang phận gái góa con côi”!... Ác nhất là
mấy đứa con trai con gái có tính sanh nạnh ganh ghét suy bì thì cứ nói bô bô
cười hô hố trên đường từ làng ra ruộng: “Tưởng là mẩy mày hay hạt thế mà ai dè như…
con cá rô đực tháng ba”! Đến tai mình thì đã lọt tai các cụ rồi. Đau đớn
lắm!... Ê chề lắm!... Nhiều lúc nghĩ cứ liều xách túi đi tìm chồng dù ra sao
cũng được!
“Lúc có cái hiệp định quân Mỹ rút hết về
nước. Thế là chiến tranh chẳng còn ác liệt nữa. Hy vọng hòa bình đếm từng ngày,
càng vui mừng phấp phỏng thì lại thấy cái ngày ấy sao dài đằng đẵng… Làng xóm
nhận cả những tin vui lẫn tin buồn. Nhà này ăn mừng được đón chồng con mất sức
chiến đấu phục viên trở về trong khi nhà hàng xóm nhận thư báo tử tiếng khóc nỉ
non thâu đêm suốt sáng nghe càng não ruột. Một hôm có người đến mời ông lên Ủy
ban xã… Cả nhà hồi hộp phập phồng tưởng không thở nổi… Thôi thì anh cứ về đây,
dù thân thể chẳng lành nhưng vẫn còn người là được. Rau cháo nuôi nhau mà có vợ
có chồng, cha mẹ con cái, gia đình xum họp nương dựa vào nhau rồi mọi chuyện sẽ
qua đi.
“Ông về tới đầu sân thì khụy xuống nấc
lên mấy tiếng hụ…hụ…hụ! Bà chạy ra ôm lấy ông lăn lóc réo lên: “Ối trời cao đất
dày ơi… Lá vàng vẫn ở trên cây mà lá xanh đã rụng... Sao ông trời nỡ đày đọa
thân tôi!”. Đang ở dưới bếp tôi nhận ra sự linh cảm đớn đau cứ ngày một lớn lên
thì nay nó đổ sập xuống đầu tôi. Bỗng nhiên mắt tối sầm, ngực thắt lại, nhói
lên, nghẹt thở, người lạnh toát, chân tay bủn rủn rồi không biết là sao nữa...
Nghe tiếng ồn ào thì tỉnh lại, người ta đông quá. Tôi lơ mơ thấy mình nằm trong
buồng, người quạt, người xoa dầu, cạo gió, người réo gọi vỗ về thủ thỉ tiếng
nhỏ tiếng to. Từ nhà ngoài vọng vào tiếng đàn ông, đàn bà sụt sùi réo gọi, an
ủi động viên: “Bà cả ơi… tỉnh lại!... Ông cả ơi! Ngồi dậy, nhấp chén nước cho
nó xuôi đi. Bà và con cháu còn nhìn vào ông để sống”!... Ngày ra xã làm lễ truy
điệu tập thể, người ta đông nghẹt, khăn tang trắng một góc đình, khóc như ri mà
tôi như người mất hồn, không còn nhớ được gì… Cũng không nhớ những ngày sau đó
tôi sống ra sao nữa. Người cứ lửng lơ lơ lửng, thơ thẩn thẫn thờ. Nhà mình đấy,
có người ở đấy mà ngày cũng như đêm im lìm lạnh lẽo với những cái bóng thui
thủi cô đơn. Người già người trẻ võ vàng héo hắt!
“Ngày 30 tháng Tư, chật ngõ, đầy đường
người ta chạy rầm rập khắp làng ra mãi tận chân đê, réo gọi nhau í ới, người
hát oang oang những gì, người khóc tu tu tức tưởi, tiếng loa vang lên rộn rã,
cờ đỏ, cờ xanh mọc lên tua tủa như ngày hội. Người ta vui vẻ bao nhiêu thì lòng
mình càng thắt lại, như kẻ vô hồn!
Làng xóm những ngày sau đó mới thật lạ
lùng, cứ như điên như dại. Nhà nhận được thư báo tử mất người khóc rống lên mãi
rồi chỉ còn là tiếng nức nở i ỉ suốt ngày đêm! Nhà được ôm chặt chồng con từ
cõi chết trở về vừa cười ha hả vừa khóc tu tu. Vui cũng khóc, buồn cũng khóc mà
cả làng cười ít khóc nhiều!
Tôi bấy giờ như người dở sống dở chết.
Nhưng trời không cho chết! Mình vẫn sống, vẫn phải ăn, phải làm, phải nhìn thấy
mọi người, lại cứ nghĩ quanh nghĩ quẩn. Không thể cứ sống u mê mãi thế này.
Làng xóm lúc đó người ta gọi là hồi sinh trở lại. Trẻ con hò reo theo nhịp
trống ếch rập rình, những chiếc bong bóng lạ lẫm xanh xanh đỏ đỏ tròn như quả
bóng, dài như quả bí, hình những con thú bay lơ lửng chợp chờn…
Thời gian qua đi, những nỗi vui dần xẹp
xuống thì những nỗi u uất trong lòng kẻ ở người về mỗi lúc lộ dần ra. Người
chết rồi thế mà yên. Người sống thì bao nhiêu nỗi đau nhoi nhói hàng ngày, đắng
cay, nghiệt ngã. Những lời an ủi động viên chẳng giúp được gì. Mỗi người tự tìm
cách vượt qua những khó khăn, tủi hờn, trống vắng. Lớp trẻ mới lớn mang bao
nhiêu ước vọng háo hức vào đời thì lớp người đã đi qua chiến tranh lỡ làng tuổi
tác, lỡ làng duyên phận, dở dang sự nghiệp phải nghĩ đến những điều thiết thực.
Giá như anh ấy để lại cho mình một đứa con thì chỉ còn một nỗi lo lam lo làm
sao đó để nuôi con dù vất vả mấy cũng qua. Nhưng bây giờ mình sống để làm gì và
sống cho ai? Gái quê ba mươi tuổi đã toan về già và tình yêu đã trao hết cho
chồng rồi còn chi nữa mà nói chuyện yêu đương! Làng quê trai ba mươi cũng đã vợ
con đùm đề. Mấy anh bộ đội trở về thì người tàn tật, người ốm yếu, có người chỉ
mang về chiếc ba lô với vài bộ quần áo cũ, nhưng cũng có người đeo chiếc đồng
hồ to tướng trên tay, bon bon trên chiếc xe đạp mới, lủng lẳng chiếc đài bán
dẫn bên hông… Mình ra đường, ra đồng cũng có người bắt chuyện nhưng chẳng ai
dám bước chân qua cổng vào nhà, có ai bạo dạn lắm thì cũng chỉ loanh quanh đầu
ngõ kiếm cớ bắt dăm ba câu chuyện rồi mỗi người đi một nẻo. Có việc gì cần đi
sớm về muộn cũng phải giải thích loanh quanh đến là khó xử. Làng trên xóm dưới
đồn đãi ầm lên những lời ví von bóng gió: “Trai tân lấy phải nạ dòng/ Như nước
mắm thối chấm lòng lợn thiu”! Dù chưa là nạ dòng thì nhắc nhở: “Trai tân rửa
mặt giếng trong/ Chớ rửa giếng đục hổ lòng mẹ cha”… Còn ai dám đến với những
cảnh đời lỡ dở như mình?! Một buổi tối có cả cụ bà, cụ ông gọi tôi lên bảo:
“Con về làm dâu nhà này cũng hơn chục năm giời. Chẳng may gặp lúc quốc biến gia
vong trai khổ phận trai, gái đau phận gái, già hận nỗi già, trẻ hờn nỗi trẻ.
Nay thầy u vẫn có thể tự lo cho mình được nên cho con về lại đằng nhà phụng
dưỡng ông bà bên đó cũng đã vào tuổi mãn chiều!”. Hai người đàn bà một già một
trẻ chỉ biết rưng rức khóc mà chẳng nói được lời nào. Suốt đêm tôi trằn trọc
không sao ngủ được: Thầy nói thật lòng hay thầy đuổi khéo vì mình đã làm gì
không trọn phận làm dâu? Ra khỏi nhà này nghĩa là dứt hết tình nghĩa với chồng
tôi người mà khi bước chân khỏi nhà cha mẹ tôi chỉ nghĩ một điều là sẽ trao thân
gửi phận suốt đời! Sớm tinh mơ tôi ù té chạy về nhà. Đẻ tôi chỉ khóc. Thầy tôi
bảo: “Tao gả chồng cho con gái chỉ có một lần. Việc đó tùy mày”! Ông anh tôi
làm việc trên xã bảo: “Người ta không muốn ôm rơm rặm bụng. Cô dù thời con gái
không còn nhưng tuổi xuân chưa hết. Nhà người ta con trai con gái lớn tồng
ngỗng cả nên họ tránh trước điều nọ tiếng kia”! Đành vậy nhưng thầy đẻ cũng già
rồi, tôi không muốn các người lại phải canh cánh một nỗi thương lo nữa bên
mình. Ông anh tôi bảo: “Cô là vợ liệt sỹ, có chính sách, cứ lên ủy ban xã trình
bày”. Hợp tác xã cấp cho tôi mấy chục thước đất bên đê. Trong họ ngoài làng mỗi
người một chân một tay giúp cho dựng lên gian nhà nho nhỏ. Ngày bước chân ra
khỏi nhà chồng, thắp hương trên bàn thờ anh, nhìn tấm bằng “Tổ quốc ghi công”
tôi nghĩ mình chẳng có công gì mà nước mắt rơi lã chã không nói được một lời…
Nhưng làm sao tôi có thể quên anh?!
Ngoài việc đồng áng, tôi bày ra cái quán
nghĩ là bán cái kẹo, cái bánh cho trẻ con. Nhưng thuận đường đi lối lại, người
ta góp ý bán thêm thứ này thứ khác. Có người nói kháy: “Lửa đang đỏ lại bỏ thêm
rơm”! Thầy tôi bảo: “Hay không lây hèn, sen không lây bùn”! Quán bán được hàng,
vui thật đấy mà không ngờ sinh ra nhiều điều phiền toái. Mấy người đàn ông rẽ
vào mua vài ba đồng rồi cứ nấn ná kiếm chuyện chân trong chân ngoài đứng mãi.
Dần dà sinh chuyện. Có người bóng gió hỏi: “Có bán cau phơi tái* không?”. Mình
thật thà nói: “Làng này chỉ còn mấy bà già ăn trầu thì tự hái cau nhà bổ ra
phơi chứ có ai hỏi mua đâu”! Họ tủm tỉm cười bỏ đi. Có người sỗ sàng ngồi lên
cái phản nhỏ kê sau bàn hàng đung đưa bảo: “Cái phản này bị long đanh**”! Mình
cũng nói thật: “Là kê ở đấy để tiện dọn hàng chứ có dùng đâu mà biết”! Họ cười
hô hố bỏ đi. Thầy tôi nghe được chửi: “Mấy thằng xỏ lá”! Hỏi ra mới biết là họ
chọc ghẹo xỏ xiên nhưng mình đâu còn là con gái mới lớn mà dễ ngượng ngập thẹn
thò, nghe dần quen đi, miễn là được việc. Ở cái làng quê nghèo trước sông sau
núi xa xôi hẻo lánh này nhà nào cũng chất đầy những nỗi khổ niềm đau mà có
thương yêu đùm bọc nhau đâu! Trong đám đàn ông có mấy người quá tuổi nhỡ nhàng
lộ ý cảm tình thì gia đình họ khuyên: “Gái giá chồng biết mấy mà mua / Trai
khôn tránh khỏi vợ thừa người ta”. Khó chịu nhất lại là mấy bà trong xóm đi qua
người liếc, kẻ nguýt nói bóng nói gió như là mình tranh mất của họ phần gì. Đẻ
tôi biết chuyện thương lắm, xuýt xoa: “Tội thân con gái tôi, khổ suốt một đời”!
Thấy mình vẫn dửng dưng thì họ lừa lúc vắng dán tờ giấy lên cánh cửa: “Quán gà
luộc lại”!*** Đến ngữ này thì tôi không chịu được nữa! Chính chuyên ai hiểu cho
mình? Không có chồng tôi chịu được, hơn chục năm rồi, có sao đâu. Ráng như cái
chớp mắt bằng thời gian ấy nữa là tôi thoát tục vào làm công quả trong chùa
tích cái nghiệp cho đời sau mình bớt khổ. Nhưng có ở trong cảnh mới biết thế
nào là “Gái không con như bè ngổ trôi sông”! Tôi chưa già, vẫn còn khả năng
sinh nở được và tôi thèm lắm một tiếng trẻ khóc trong đêm, một tiếng gọi “mẹ”
lúc mình cô quạnh. Tôi quyết tự thay đổi cuộc đời. Tôi lập bàn thờ bày ảnh, lúc
tối, lúc khuya tỉnh dậy thắp hương khấn anh tôi nói thật lòng: Anh ơi! “Gái có
chồng như sông có nước / Gái không chồng như rác như rơm”. Khi về làm vợ anh là
em đã gửi da gửi thịt hết cho chồng. Bây giờ em là con sông cạn mà người đời
lại coi em như rơm như rác thì em không sống nổi. Em xin anh cho em kiếm một
đứa con để nó dìu em đi hết cuộc đời này. Cầu xin anh phù hộ cho em”! Người ta
nói: “Đàn ông như cái gậy thằng ăn mày” chẳng sai! Thân gái một mình ở quán ven
đê chỉ cần chút lơ đễnh đã thiếu gì ông này anh nọ kể cả mấy thằng trẻ ranh ve
vãn. Dù sao mình là người có ông bà cha mẹ họ hàng thì đừng để mang tiếng là kẻ
luông tuồng. Ấy thế mà mấy con mẹ độc mồm đặt điều ra: “Lạ gì chó cái đến kỳ /
Để bày chó đực trồng xi trước nhà / Hít hà đến rỏ rãi ra / Mau chân lên kẻo hết
kinh mãn kỳ”! Xỏ xiên, móc máy, rình mò mà nào đã ai bắt được ai đâu! Thế mà
đến khi cái linh cảm được làm mẹ thì nỗi lo cứ ngày một lớn theo đứa bé, có
mừng chỉ là vụng trộm âm thầm! Nhiều lúc tôi ao ước đứa con trong bụng cứ nằm y
đấy, đến ngày đến tháng tôi lên mãi xa trên thành phố đón nó ra rồi mang về nói
là nhận đứa con nuôi. Đẻ tôi tối nào cũng ra ngủ với tôi bảo: “Đừng nghĩ bậy
nào con. Nó phải ăn, phải lớn thì mới thành người. Đã dám làm thì dám chịu. Chớ
nghĩ quẩn để hại cháu bà. Thầy đẻ càng hiểu càng thương và che chở cho con là
được rồi”! Đầu làng cuối xóm eo xèo những câu ví ví von von: “ Không chồng mà
chửa mới ngoan… Gái chửa hoang các vàng chẳng lấy”! Có điều lạ là khổ đau vậy
mà tôi càng muốn sống. Sống cho con và sống vì con. Người đàn ông ấy mấy lần
đến nài nỉ xin nhận con. Dại gì, tôi thà chịu nghe điều này tiếng nọ còn hơn
rước vào tai họa cho con tôi. Gia đình chẳng êm xuôi nên ông ta cứ đeo đẳng mãi
hứa sẽ ly dị vợ chẳng cần gì sự nghiệp cơ đồ. Tôi hỏi: “Liệu ông có gan đánh
đổi cơ ngơi danh phận để nhận đứa con không phải giọt máu của mình?”. Ông ta há
hốc miệng ra không hiểu nổi. Tôi nói để ông đừng đến làm phiền tôi, làm khổ con
tôi sau này nữa: “Chỉ người mẹ mới biết đích xác ai là cha của con mình. Ông
đừng mê mẩn cuồng xi đã khổ thân ông lại lây khổ sang mẹ con tôi”! Ông ấy tiu
nghỉu bỏ đi và từ đấy như người xa lạ… Đám đàn ông lớn bé đĩ miệng đàn đúm chén
trà điếu thuốc bô bô khoác lác bày chuyện tranh nhau… Họ liều lĩnh quàng xiên ở
đâu chứ cái gan cái chí thì thua đàn bà.
Ngày đón cháu ra đời “mẹ tròn con vuông”
cũng chỉ âm thầm có mẹ con bà cháu. Tôi suy nghĩ kỹ rồi, con nào cũng lấy tên
Bình. Con trai thì là Nguyễn Quý Bình. Tên cha cháu tôi khai là Nguyễn Quý Yên,
để lớn lên nó khỏi bị mang tiếng là con không cha. Làng xóm một thời lại rộ lên
những tiếng thị phi. Có người đặt vè nói móc: “Nhìn trời ngắm vẩy tê tê / Thấy
ông liệt sỹ đêm về làm chuyện sinh con”! Bên nhà anh ấy giận lắm đánh tiếng:
“Đừng để người chết không yên vì chuyện chẳng ra gì!”. Thầy tôi thương con bắn tiếng:
“Đời thiếu gì người trùng tên trùng họ, thậm chí còn giống cả hình hài!”. Đêm
nào tôi cũng thắp hương nguyện cầu trước bàn thờ anh phù hộ cho mẹ con tôi: “Nó
là hòn máu của em, nếu anh còn thương em thì xin anh thương nó như con và phù
hộ cho mẹ con em”! Làm sao tôi có thể qua bên ấy xin phép đặt tên con và chắc
gì người ta đã chịu. Cái phúc lớn nhất là thằng bé rất giống tôi. Càng lớn nước
da nó càng trắng bóc. Lớn lên nó hỏi sao con trai không giống cha? Tôi giải
thích rằng con không giống cha thì giống mẹ, miễn không giống người dưng là
được. Có điều là gia đình anh ấy mỗi dịp đi qua nhà đều lánh xa ra và lỡ gặp mẹ
con tôi giữa đường thì tìm cách lảng đi, coi như mình làm điều tai tiếng để ảnh
hưởng đến người ta!
Không ngờ rằng tiếng khóc tiếng cười lời
nói ngây ngô thơ dại đêm ngày làm cho căn nhà bớt trống vắng ấm lên, lòng mình
nhẹ đi biết mấy và cái bầu không khí u ám nặng nề chung quanh mình chẳng cần để
ý làm gì thì như nó dịu đi lắng xuống.
Một thân một mình nuôi con vào thời buổi
thắt ngặt ấy thật vất vả nhưng mẹ trông vào con, con nương vào mẹ là mọi nỗi
khổ qua đi. Mẹ không có sữa mà con vẫn lớn lên bằng nước cơm nước cháo. May là
nó biết thương mẹ, không lêu lổng đua đòi, chỉ lo học nên mình dù vất vả mấy
vẫn vui. Tôi nghĩ ông Trời thương ban cho mẹ con tôi sức khỏe và vong linh anh
phù hộ cho mẹ con tôi vượt qua mọi trắc trở cám dỗ ở đời. Tuy vậy nỗi đau lớn
nhất của tôi lúc đó là khi thằng bé chạy về tấm tức hỏi: “Cha thật của con là
ai?”. Tôi không thể chỉ vào tấm ảnh thờ để nói dối con nữa mà phải tỏ ra cứng
cỏi tự tin ôm nó vào lòng: “Con đừng nghe ai nói càn xiên. Họ có thương con
không? Mẹ vừa là mẹ vừa là cha con đấy!”. Nó thấy tôi chảy nước mắt ra thì lại
trêu tôi: “Mẹ lưỡng tính à?”. “Con xem mọi việc trong nhà này mẹ quán xuyến hết,
có cần tới bàn tay của người đàn ông nào đâu?”. Nó vục vào lòng tôi an ủi: “Ừ,
mẹ đây… cha đấy!”
Nó lớn lên dần hiểu ra nghịch cảnh của
mẹ của con nên khôn trước tuổi. Học mẫu giáo năm nào cũng được khen là bé
ngoan. Học tiểu học được khen là học sinh giỏi của xã. Học cấp hai đậu học sinh
giỏi của huyện. Học cấp ba đậu học sinh giỏi của tỉnh. Cái tiếng con không cha
không còn là điều để người ta riả rói nữa mà nhiều nhà lại lấy đó dạy con. Rồi
nó thi trúng vào đại học. Tôi lăn ra làm quần quật không biết mệt. Lo cho mình
chẳng bao nhiêu nhưng lo cho con thì không sao kể hết. Thấm thoắt mà nó ra nghề
kỹ sư xây dựng rồi được tuyển dụng làm đúng ngành nghề. Kể ra chỉ chốc lát thế
thôi mà phải chịu hăm mấy năm trời đằng đẵng thì người mình rã ra như cám còn gì!
Được an ủi là nó đã làm mát mặt mẹ, là niềm vui cho thầy đẻ và anh chị em tôi.
Vui là thế mà lắm khi tôi vẫn khóc. Nỗi vui không có người chia sẻ lại càng
buồn và thương anh ấy bội phần. Tôi nghĩ rằng anh đã phù trợ cho con về mặt
tinh thần chớ thực ra thì sự ưu tiên gia đình liệt sỹ nó đâu được hưởng. Tôi
thầm khấn: “Anh không còn nhưng lúc nào cũng nâng đỡ mẹ con em chịu đựng được
đến hôm nay. Vợ con anh toại nguyện và anh siêu thoát thảnh thơi”. Dường như
gia đình anh cũng không còn phiền giận. Nghĩ rằng bên đó đã hiểu cho cảnh ngộ
mẹ con mình nên vào một dịp giỗ anh, tôi dẫn con tới xin ông bà nhận cháu không
là con đẻ thì cũng là đứa con tinh thần như là nghĩa tử của anh để mẹ con tôi
được lo phần hương khói. Ông trả lời rằng: “Cảm ơn chị vẫn nghĩ tới con tôi.
Theo lề thói ông bà xưa để lại thì gia đình tôi không thiếu cháu kế tự lo hương
khói cho anh ấy”! Mẹ con lủi thủi ra về vừa buồn vừa tủi. Thầy tôi khuyên:
“Người ta theo nền nếp gia phong thế là phải. Lỡ sau này có người nhận làm cha
nó thì con người ta lại bơ vơ! Nén hương thấu đến cửu trùng. Tâm động quỷ thần
chi. Con cứ thành tâm là được!”
Thời gian qua đi thật nhanh. Một hôm mấy
người em anh tới nhà tôi, ngập ngừng thăm hỏi vài câu mà lộ vẻ lo lắng bồn
chồn. Tôi gặng hỏi: “Có việc chi hệ trọng lắm phải không? Cô chú cứ cho biết.
Tôi tuy đã ra khỏi nhà nhưng vẫn coi mình như con của thầy u, việc nhà cũng là
việc của tôi”. Chú em kế nói: “Anh cả mất đã lâu mà vẫn không biết còn nằm ở
đâu? Thầy u già rồi mà đêm ngày luôn thao thức không yên. Anh em tôi đã dò ra
tin tức lại tìm được ông thầy có tiếng, phối hợp với đồng đội cũ của anh rất
nhiệt tình giúp đỡ nên có ý định đi tìm hài cốt đưa anh về quê hương. Thầy u
bảo phải cho chị biết, còn là tùy ý chị!”. Tự dưng tôi thấy trong người bừng
bừng rạo rực, lời nói ra mắc nghẹn nửa vời: “Thật lòng tôi không lúc nào quên
anh, càng về già càng day dứt mà không thể làm gì và càng không thể nói ra dù
ngày đêm tôi vẫn khấn cầu điều đó. Giờ mà đón được anh về đây thì bảo làm gì
tôi cũng không từ chối và dầu có chết tôi cũng cam lòng!”. Tội nghiệp thằng bé
cũng đòi đi theo vừa lo cho mẹ vừa mong giúp được việc gì. Suy đi nghĩ lại tôi
thấy việc này không thể nghĩ nông cạn được. Lỡ chuyện không xuôi xả thì sao?
Tôi nói để nó yên lòng: “Mẹ tuy lớn tuổi nhưng còn đủ sức chịu được mọi nỗi vất
vả đường xa”. Nó lại gom tiền đưa cho tôi để đóng góp vào việc chung nhưng tôi
không nhận: “Lúc nghèo quá đành chịu vậy nhưng lúc có dù là chút đỉnh mẹ vẫn ăn
nhịn để dành phòng lo nhiều chuyện. Đây là lúc mẹ lo cho trọn việc tình việc
nghĩa”.
“Khi vào tới nơi tôi mới vỡ lẽ ra rằng
đây là lần thứ ba bên nhà đã lần tìm rất công phu vất vả. Dự định lần này mà
không được thì đành chịu thua thôi. Anh em người ta có tha thiết với nhau lắm
thì mới chịu cái cảnh ngậm ngải tìm trầm như thế! Đoàn vừa ra mắt thì ông thầy
ngoại cảm đã chỉ thẳng vào tôi hỏi: “Vợ linh sao lúc này mới tới để người âm
đợi mãi?”. Sau khi khấn vái trước bàn thờ, chúng tôi ra thăm nơi khai quật tìm
cốt liệt sỹ. Sự việc xảy ra ngót bốn mươi năm rồi, quang cảnh đổi thay nhiều,
làng xóm san sát nhà mái ngói mái tranh, đồng ruộng quanh làng phủ kín một màu
xanh nhưng bà con ở đây rất tốt, sẵn sàng cho đào bới bất kỳ chỗ nào dù là
ruộng lúa, vườn cây hay là ngay dưới nền
nhà đang ở nghi có chôn liệt sỹ. Dọc theo đồng làng đã khai quật năm bẩy chỗ
cách nhau hàng chục mét… Về nhà trọ, thầy dặn ăn chay sau đó ngồi niệm vong. Rõ
thật lâu tới lúc mọi người mệt quá ngủ rũ nằm lăn ra. Mãi khuya, thầy lay tôi
dậy trao cho một bó hương và một bó hoa cúc và dặn: “Sáng mai lúc sớm tinh mơ,
cô một mình theo lối cũ ra chỗ chiều nay, thắp nhang lên bàn thờ ngoài đó và
khấn Trời Phật, thổ thần linh thiêng chỉ đúng chỗ vong nằm. Sau đó cô đi vòng
quanh mấy chỗ đã khai quật, vừa khấn gọi linh chồng, vừa cắm một bông hoa với
một nén hương ở mỗi nơi tùy ý rồi về trước khi mọi người thức giấc. Mọi việc
sau đó tôi lo”. Nghe lời thầy, tôi thao thức gần như không ngủ được. Trời còn
sớm lắm tôi đã vùng dậy đi như chạy theo con đường vắng ra chỗ đồng không mông
quạnh. Tôi linh cảm như anh đang sốt ruột chờ tôi ở nơi ấy nên chẳng còn biết
sợ. Đang tiết cuối thu thì vào giờ ấy chắc là lạnh lắm mà người tôi lại nóng
ran lên, mỗi bước chân cảm như có người dẫn dắt nên tôi cứ đi thoăn thoắt và
làm theo lời thầy chỉ dẫn như một cái máy và cũng không biết cảm giác mình là
sao nữa… Tôi về nhà trọ khi mọi người vẫn còn ngủ say sưa. Đặt mình xuống mới
cảm thấy mệt mỏi rã rời và lạnh run lên. Tôi kéo chăn phủ kín đầu mà nước mắt
cứ tuôn trào ra rồi thiếp đi… Tôi mơ màng nghe có tiếng người kêu dậy thì giật
mình tung chăn ra, mọi người đang lục tục chuẩn bị công việc cho ngày cuối cùng
tìm mộ. Ông thầy đang thắp hương lầm rầm khấn khứa quay lại bảo cứ thủng thẳng
hãy ra đồng, chờ cho nắng mai lên tan hết sương đi đã… Ra tới hiện trường, thầy
bảo mọi người quây quần lại thắp hương thành tâm khấn Trời Phật quỷ thần với
người âm. Thầy dặn mọi người chú ý xem có con bướm nào bay tới đậu lỳ tại một
bông hoa, đấy chính là nơi linh nằm và sẽ tìm thấy cốt trước khi mặt trời đứng
bóng. Mọi sự diễn ra đúng như thế. Một đàn năm bảy con bướm ở đâu bay tới loanh
quanh tìm những bông hoa sà xuống đậu một lúc rồi bay biến đi đâu, chỉ còn một
con bướm nhỏ đậu mãi trên một bông hoa không xa cái hố gần nơi đặt bàn thờ, mọi
người tới sát bên nó mới chịu bay lên mà cứ đảo vòng quẩn quanh đấy mãi. Ông
thầy chỉ tôi và bảo: “Có người ấy ở đây thì linh mới chịu cho rước về thôi!”.
Mấy người đàn ông hối hả đào bới một hồi, lúc lôi lên một mảnh nilon thì mọi
người khóc òa lên. Tôi ngất xỉu đi… Khi tỉnh dậy thấy trên bàn thờ cạnh đó có
một bọc vải điều nhỏ, đấy là hình hài của chồng tôi còn lại?! Ông thầy bảo theo
anh em đồng đội kể lại thì vong lãnh gọn một trái pháo đại từ chiến hạm Mỹ đậu
ngoài khơi bắn vào, trải gần bốn chục năm dãi nắng dầm mưa mà di cốt còn được
vậy đã là may lắm. Tôi lại thiếp đi… Trở
về nhà tôi mới được biết hình hài anh chỉ còn lại mấy mẩu xương không phân biệt
nổi và một mớ đất trong đó xương thịt anh tan hóa lẫn vào. Gia đình bên anh cẩn
thận còn đưa đi giám định ADN nữa. Người ta bảo phải viết cam kết nếu kết quả
không hợp thì gia đình sẽ chịu hoàn toàn phí tổn và phải lo việc cải táng hài
cốt chu toàn phòng lỡ sau này có người thân tìm đến. Khi có kết quả báo về đúng
là người cùng máu mủ rồi thì cả họ cả làng chộn rộn lên. Ông cụ ngồi bần thần
suốt ngày trong khi bà cụ thì khóc lên khóc xuống. Họ tộc bàn đưa anh về nằm
trong khu mộ gia đình. Đến thủ tục xin làm lễ rước hài cốt liệt sỹ trở về thì
trên huyện đội sau khi tra cứu hồ sơ yêu cầu nhất thiết phải có vợ của liệt sỹ
đứng ra đặt vấn đề thì họ mới thực hiện đúng theo nghi lễ nhà nước qui định về
việc cải táng hài cốt liệt sỹ trở về quê hương. Nghe nói giữa gia đình và cơ
quan chủ quản việc này lý sự đôi co mãi. Một bên thì nói theo phong tục ông bà
truyền lại, con dâu bước ra khỏi nhà chồng đã là người dưng huống chi lại có
con riêng. Một bên nói rằng sự việc xảy ra lâu sau khi liệt sỹ hy sinh và cả
khi có giấy báo tử về thì không thể truất quyền làm vợ của người phụ nữ đã hết
lòng với chồng như thế. Sự thể sau này không thể trách và cả hai mẹ con đều là
người lương thiện sống tốt giữa dân làng. Được cả người chết lẫn người sống đều
nhớ tới là tôi mãn nguyện rồi. Cuối cùng gia đình chịu để tôi đứng ra làm đúng
theo quy định hiện hành. Thế là việc đón rước anh về với ông bà trước khó sau
êm”.
Cuộc sống bộn bề
lúc nhớ lúc quên. Bẵng đi mấy năm, lúc về hưu mới có nhiều thì giờ nhớ lại
chiến trường xưa bạn cũ. Mấy anh em đồng đội rủ nhau về viếng nơi an nghỉ của
người đại đội trưởng từng để lại trong chúng tôi nhiều kỷ niệm đậm tình chiến
hữu mà cái chết thật bi thương.
Cảnh quê đổi thay nhiều quá. Nhà tầng
san sát dọc theo đê vào mãi tận trong thôn. Thăm hỏi hồi lâu mới tìm đến được.
Thay ngôi nhà cũ nay là ngôi nhà tầng đẹp mắt. Ở góc sân trước đậu chiếc xe đời
mới. Tôi nhận ra ngay bà chị vì người già ít đổi thay tuy dáng bà có đẫy đà
hơn, bước đi hơi chậm lại nhưng phong thái ung dung nhàn nhã.
- Các anh tới thăm lần nữa chắc là tôi
đã theo ông ấy về hầu các cụ hai bên!
Đứng trước bàn thờ khang trang với tấm
ảnh được phóng to hơn mà nét mặt vẫn trẻ trung hiền hậu của một thầy giáo làng
tạm khoác chiếc áo người lính giải phóng quân trong lúc nước nhà cần đến. Chúng
tôi thắp hương, sắp hàng ngang, nghiêm chỉnh, người chắp tay vái, người giơ tay
chào và dù ai cũng cố kìm nén xúc động mà nước mắt nước mũi cứ chảy dài trên
má, trên môi.
Rồi những chuyện vui làm khuây đi những
nỗi buồn. Bà chỉ lên tấm bằng “Tổ quốc ghi công” đặt trang nghiêm trên tấm ảnh
thờ:
- Trước khi cụ ông bên anh qua đời cho
gọi mẹ con tôi tới. Cụ trao cho tôi tấm bằng và nói: “Đây là niềm vinh dự nhưng
cũng là nỗi đau lớn nhất đời người cho thầy u và cả cho con. Đừng nói nỗi đau
nào hơn nỗi đau nào nhưng nó nhắc nhở người sống không hổ thẹn với người đã
chết. Bởi cố chấp theo cổ lệ hẹp hòi mà thầy đã xử sự không phải với con. Thầy
biết thời nay người được như con không hiếm mà người chẳng bằng con cũng không
phải ít đâu. Con rất xứng đáng nhận lấy và làm tấm gương cho con cháu biết sống
có hiếu có nghĩa với nhà với nước. Thầy coi con và cháu là người thuộc họ nhà
này. Khi nào về với tổ tiên con có thể nằm bên cạnh chồng con!”. Nghe nói trong
một lần thầy được các đồng đội của anh đưa vào thăm thành cổ Quảng Trị nhân
ngày lễ tưởng niệm, thầy gặp bà vợ một vị tướng có con hy sinh ở đấy và biết
chuyện bà đã đứng ra tác thành duyên mới cho vợ người liệt sỹ con bà dù rằng
chị đã có một đứa con là cháu nội của bà. Sau lần ấy thầy thay đổi định kiến về
tôi khiến cho những người trẻ trong nhà rất đỗi ngạc nhiên.
Thằng cháu trai chừng bốn, năm tuổi cứ
níu lấy bà và quậy làm câu chuyện nhiều khi đứt quãng khiến bà phải hướng lên
lầu réo gọi bố mẹ nó xuống trông con cho bà tiếp khách. Đôi vợ chồng trẻ theo
nhau xải bước dài xuống theo những bậc thang người ôm chặt thằng bé người giữ
tay vòng trước ngực và ấn đầu nó xuống:
- Xin lỗi bà nội đi con!
Cậu ta bế bổng con lên trong khi thằng
bé cứ rãy nảy trên tay.
Ánh mắt bà âu yếm nhìn cháu, nhìn con:
- Ngày cưới vợ cho nó không biết các ông
ở đâu mà mời. Nó tự lo lấy hết lại còn đánh xe đưa mẹ lên thành phố tô điểm,
may sắm hai bộ đồ lễ một màu vàng một màu tím thêu rồng phượng lóng la lóng
lánh. Người quê như tôi thấy tiếc của và mặc vào cứ lúng ta lúng túng. Lúc đi
đón dâu người ta cứ nắc nỏm trầm trồ bảo tôi đẹp như một bà hoàng.
Cô con dâu nhanh nhảu mở cánh cửa tủ thờ
lấy ra tập ảnh cưới đưa về phía chúng tôi khoe:
- Các bác xem có y như một bà hoàng thật
không này… Con mà già như mẹ thì chả được thế đâu!
Trong khi chúng tôi thay nhau xem hình,
bà nhìn con cháu:
- Ừ thì tao như một bà hoàng nhưng là bà
hoàng đau khổ, bà hoàng cô đơn! Có ai muốn làm bà hoàng như thế không nào?
Quay qua chúng tôi bà thở một hơi dài và
nhẹ, giọng ngậm ngùi:
- Chỉ những người như cha mày thì chẳng
được hưởng gì. Thế mà còn có những đứa bạc được hưởng bổng lộc chán chê còn bày
chuyện nói này nói nọ!
Cậu con trai nhìn chúng tôi phân trần:
- Mẹ bận tâm tới lũ người vô ơn bạc
nghĩa ấy làm gì! Kẻ nào phỉ báng ông cha thì đời sau sẽ nhổ bọt vào mặt chúng!
Trước khi ra về chúng tôi chân thành
chia sẻ niềm vui với chị và lại đứng xếp hàng ngang thành kính chào anh, trong
lòng thầm nghĩ: Được người vợ và có những đứa con như anh thật quả sự hy sinh
ấy không có gì là ân hận!
TP. HỒ CHÍ MINH
Ngày 10 tháng 7 năm 2013
* Cau phơi tái/ Gái đoạn tang / Chim ra
ràng /Gà mái ghẹ
** Gái không chồng như phản gỗ long đanh
*** Gái cải giá / Gà luộc lại
No comments:
Post a Comment