BÀ HAI TỐT


BÀ HAI TỐT
                                                             {

         Mọi người gọi bà là “bà Hai Tốt” dù chẳng ai biết tên thật của bà. Ở cái xóm nghèo của quận GòVấp này ai cũng biết bà. Nhà bà ở ngay đầu hẻm. Cái ngôi nhà gạch cổ lỗ thấp lè tè lợp bằng những viên ngói âm dương cong cong sấp ngửa, mốc meo, được mọi người gọi là “quán Bà Hai Tốt”. Có người còn gọi bằng cái tên thật trân trọng:”Trường học Hai Bà”. Chẳng là trong ngôi nhà ấy có hai bà già: một mẹ, một con. Gọi là quán vì nó là một tiệm chạp phô nho nhỏ kèm theo hai buổi cơm trưa, sớm. Gọi là trường vì có lúc ban đêm nó là lớp học cho đám trẻ bơ vơ nhưng có người còn nói rằng vì cuộc đời của hai bà như một tấm gương cho bà con xóm ấp. Khách mua là những dân nghèo trong xóm, lúc đặt nồi cơm lên bếp mới lật đật chạy ra mua mấy lon gạo, hũ chao, bịch mắm, ba thứ đồ khô... với mấy đồng tiền nhàu nát nằm gọn lỏn trong lòng bàn tay nhem nhuốc, có khi còn thiếu nợ… Đến khi con nợ trả tiền, hai bà mới nhớ. Vậy mà không có ai xù nợ quán bà. Khách ăn là những anh thợ hồ, những chú xích lô, ba gác, xe thồ... Học trò là những đứa bụi đời: bán vé số, nhặt ve chai, lang thang hè phố... Nói chung những người đến đây đều lam lũ và nghèo.
Cái tên Bà Hai Tốt không biết được thành danh từ lúc nào, nó như là một cái tên riêng của cái quán ấy, để chỉ hai bà già ấy. Khi cần phân biệt rạch ròi, người ta kêu bà Hai Già, và bà Hai Cô Giáo. Các bà là người thổ địa xứ này nhưng những người gốc gác tại đây  chẳng là bao so với số đông người tứ xứ tới ngu cự. Những người kỳ cựu ở đây biết rằng những năm trước, bà Hai Già ngồi bán quán và cô Hai –  con gái bà, đi dạy học. Mấy năm nay bà Hai đã già yếu, cô Hai đã luống tuổi nên ở nhà vừa trông quán làm kế sinh  nhai vừa trông bà mẹ già bán thân bất toại. Thấm thoắt tóc cô ngả màu bông gần như tóc mẹ lúc nào không ai hay… Những người đến sau đâu dám gọi bằng cô nữa, thế là quán ấy có hai bà. Quán cơm của bà Hai Tốt toàn những món ăn bình dân mà những tô cơm thì hợp với bao tử của người lao động. Quán của bà là quán ăn chứ không nhậu nên cả chục năm nay sớm trưa tuy đông khách nhưng không có chuyện ồn ào.
Vùng này trứơc đây thưa vắng, lèo tèo chỉ mấy ngôi nhà, đất ao, đất ruộng thấp cao, vườn tược hoang vắng bịt bùng, chiều muộn người trong thành phố  có việc qua đây mắt trước mắt sau bước vội. Vậy mà theo làn sóng người nhập cư, xóm này đã đặc kín nhà, lối ngõ chật hẹp, mấp mô. Người đông sinh lắm chuyện, cái vùng ven đô không còn yên ả như ngày xưa nữa. Người lớn say sưa, cờ bạc, đĩ điếm, trộm cướp. Trẻ con hoang bụi, thất học, đua đòi. Khu phố tổ chức “lớp học tình thương”, lúc đầu xem vẻ xôm tụ lắm nhưng tẻ nhạt dần. Người học lưa thưa, người dạy nản lòng bữa có bữa không. Lớp học rệu rã rồi chỉ còn lỏng chỏng lơ chơ mấy chiếc bàn, chiếc ghế què quặt, ẩm mốc tả tơi. Cả thầy và trò không ai lưu luyến...
Nhìn mấy đứa trẻ lêu bêu trong xóm, tấm lòng nhà giáo trong lòng bà Hai nhoi nhói, ngặt vì mẹ bà nằm liệt giường nên bà không thể vắng nhà, nhưng lòng bà như có gì thôi thúc. Bà nghỉ cái nghề giáo không phải vì đồng lương ít ỏi, mà vì hoàn cảnh của bà. Bao nhiêu năm dạy học miệt mài, bà đã hiểu được rằng cái nghề nhà giáo chẳng mang lại sự giàu sang, quyền chức. Vi yêu người mà quyến luyến gắn bó với nghề thôi, rồi coi nó như là cái nghiệp của đời người. Lòng bà nhân ái và đôn hậu được mọi người mặc nhiên gọi là bà Hai Tốt với lòng yêu mến, kính trọng cũng là bà được hưởng lộc từ tấm lòng nhân hậu của mẹ bà.
Khách quán bà có nhiều con nít đủ lứa, từ lóc nhóc 5-7 tuổi tới đứa 15-17 tuổi lấc bấc lơ bơ. Những đứa trẻ lông bông ấy thường khi đói chúng tìm đến quán bà vì dù ít tiền chúng cũng được đầy cơm vào cái dạ dày trẻ dễ dàng thun dãn. Chúng gọi bà bằng đủ loại ngôi thứ: Ngoại! Nội! Bà Hai! Dì Hai! Cô Hai!... Nét mặt bà nghiêm nghị nhưng bà biểu lộ tình thương yêu chúng bằng lời nói nhẹ nhàng và những cử chỉ thân tình: “Đói lắm hả con?”. “Mấy hôm nay bé Diệu đi đâu?”. “Chớ chưởi thề quen miệng!”... Và bà chủ động thêm cơm, thêm canh vào những cái dĩa, cái tô cạn kiệt...
Một hôm bà biểu mấy đứa nhỏ:
- Tối đừng có lang thang xó chợ đầu hè, đứa nào muốn học lại đây, cô dạy!
 Hôm đầu có mấy đứa loe ngoe. Chúng đến tay không vì chúng không biết đi học cần những đồ gì. Bà đã chuẩn bị cả xấp tập và tá bút bi. Tan học, bà bảo chúng xếp bút, tập nơi góc kệ, chớ về nhà chỗ đâu mà để. Chỉ còn bà trong đêm vắng vẻ, bà lần giở tập vở của lớp học trò đặc biệt, nhìn những dấu vết ngón tay lem luốc trên những trang giấy trắng tinh, bà bồi hồi nhớ lại từng đứa một...
Dần dà bọn nhỏ rủ rê nhau đến học cho vui, có lúc hàng chục đứa chen chúc trên mấy cái bàn ban ngày được dùng làm bàn ăn của khách. Tối tối, từ cái quán lẹp xẹp ấy vang lên những tiếng ê a học bài và rộn ràng những tiếng cười trong trẻo hồn nhiên, đố ai biết được đó là tiếng cười của những đứa trẻ đói nghèo?! Chúng chấp nhận cảnh ngộ một cách vô tư bởi chúng chưa biết bon chen, ganh tị với đời. Trong đám học trò ấy có thằng bé loắt choắt 9-10 tuổi, có cái đầu to với mái tóc xoắn rối tít bù xù đặt trên cái cổ gầy guộc, được bọn trẻ gọi là “thằng Út Sọ Dừa”. Mặt nó lem lúa lại càng nổi lên đôi mắt to và sáng. Nó ít nói, ít cười, vẻ mặt đăm chiêu như lúc nào cũng vương vấn một sự lo toan. Trong lớp, nó thường ngồi chăm chú, đôi mắt mở to nhìn bà Hai. Khi cần nó mới gọi bà chỏng chơ theo thứ: “Hai ơi!” và nó nói lí nhí, bà phải ghé sát bên nó mà nghe. Mỗi khi nó vắng mươi ngày, bà thấy nhớ và lo âu hỏi tụi nhỏ: “Thằng Út Sọ dừa đâu, bấy nay không thấy?!”... Tan học, mấy đứa ra về hết, nó thường lừng chừng nán lại nhìn bà quyến luyến, nhiều khi nó len lén móc ra từ sau vạt áo khi trái ổi, trái cóc, trái mận, trái mãng cầu... đặt vội lên bàn rồi chạy lẹ ra ngoài cửa. Bà Hai nâng niu món quà đơn sơ ấy và nhìn theo hút bóng nó lẩn trong đêm...
Không ai để ý thằng Út Sọ Dừa có mặt ở xóm này từ lúc nào. Không ai quản lý nổi những người nhập cư, một nhà nhưng hai ba cặp ở. Khôngai để ý người nào đến trước, đến sau. Họ ở đấy. Họ đẻ con. Họ bỏ đi biệt tăm. Cũng có ngươi quay lại dắt thêm bạn mới hoặc kèm thêm một hai đứa nhỏ lóc nhóc không hiểu là con đẻ hay con “từ thiện”. Khi mọi người phát hiện ra thằng bé có cái đầu to tướng bù xù như cái sọ dừa thì người ta biết là nó ở gần cuối xóm, trong một túp lều xơ xác: mái nhà là những mảnh giấy dầu xen lẫn với những mảnh nilon đủ màu tơi tả, vách là những tấm tôn hoen rỉ, lỗ chỗ những vết thủng nhỏ to thay cho cửa sổ và những mảnh “cạc ton” đủ loại. Trong túp lều ấy có một người đàn ông không ai rõ mặt, rõ tuổi vì anh ta đi về không theo một giờ giác cố định nào và mặt anh ta lúc nào cũng cúi gằm xuống, mồ hôi, cát bụi... như một lớp sơn dầu phủ đầy khuôn mặt không rõ hình thù, nó dầy dầy, nhừa nhựa, đờ đờ. Tất cả những biểu hiện cảm xúc của con người ấy thể hiện qua những âm thanh eo éo phì phò phát ra từ một cái loa rè rỉ mấp mô hai hàm răng xỉn với những lỗ hổng đen ngòm... Cũng không ai biết rõ mối quan hệ của người đàn ông ấy với thằng bé Sọ Dừa. Nếu theo cách xưng hô thì thật là khó đoán, vì người ta thấy chúng chỉ cẳn nhẳn, cằn nhằn nhau một cách cộc lốc theo ngôi thứ nhất, thứ hai là tao, tôi với ông, mày mà thôi. Người ta đoán chừng chúng là cha con có lẽ tính theo tuổi tác và chiều cao nhân thể, bởi vì xem ra hai con người ấy chẳng có gì ràng buộc với nhau: ai muốn đi đâu lúc nào tùy ý, có trở về hay không cũng mặc! Mỗi người sống ra sao, chẳng ai cần bận tâm đến ai! Cái gọi là nhà cũng như cái lán công cộng cho chúng nghỉ tạm qua đêm.  Có lúc người ta nghe tiếng la hét phì phò như từ cái bễ lò rèn và thằng Sọ Dừa từ trong nhà lao ra, cắm đầu chạy tuốt, không hề ngoái cổ lại sau. Rồi một ngày nào đó lại thấy nó tha thẩn về và chui vào cái ổ chuột hôi mù. Đôi khi người ta thấy trong nhà thấp thoáng bóng đàn bà. Êm đềm mấy bữa rồi đột nhiên từ cái loa rè rỉ phát ra tiếng eo éo phì phò
- Cái giống đàn bà đĩ ngựa, bạ đâu cũng quệt, cút xéo mẹ mày đi!
Đáp lại là một giọng chu chéo không vừa:
- Thằng đàn ông khốn nạn, làm ít ăn nhiều, lúc nào cũng như cái hũ hèm, ngủ với vợ như chó, ai mà chịu được?!
Rồi tiếng la oai oải, tiếng chửi thề, tiếng người vật lộn nhau huỳnh huỵch, tiếng tấm ván tôn hoen rỉ rung rung như người tắc nghẹn...
Chẳng ai ngó vào cái căn nhà tã rách ấy ngoài mấy đứa nhỏ hiếu kỳ từ xa nhìn vào rồi toét miệng cười hể hả. Ở cái xóm này thiếu gì những chuyện kỳ dị, lăng loàn đủ loại...
Ấy vậy mà ai cũng kính trọng bà. Người dân tại chỗ nể bà vì biết ông cố, ông sơ bà thuộc lớp người khai phá mảnh đất này. Lớp người già biết bà mồ côi cha từ khi còn trong bụng mẹ. Có người còn nhớ hồi “loạn Canh Thìn” – cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 do Đảng Cộng sản lãnh đạo, anh “Hai Xe Ngựa” là một trai làng hăng hái đứng ra hô hào bà con ấp trên ấp dưới nổi dậy đánh Tây. Chính ở gần đầu đình ngoài kia, anh cầm cây phảng rượt cả một tốp lính chạy dài. Rồi anh bị trúng đạn ngã xuống… Xác anh nó lôi ra phơi giữa ngã ba đường, tới khi thi thể trương phình, người qua lại không ai chịu nổi, thằng cò Lơ Kéc khét tiếng tàn ác mới chịu cho vợ anh lặc lè bụng mang dạ chửa cùng với mấy người thân tộc đem xác đi chôn! Từ “con Bé Hai” đến “Chị Hai” rồi “cô Hai” và bây giờ là “bà Hai Tốt”, bà sinh ra, lớn lên, già đi và đang âm thầm tàn tạ trên mảnh đất này.
Hai mẹ con bà sống lặng lẽ theo những tháng ngày trôi, trải qua bao nhiêu lần thế sự đổi thay, cái xóm này vẫn nghèo truyền kiếp và những người cũ, mới đang sống ở đây đều thấy ở mẹ con bà cách sống chuẩn mực của người lương thiện. Dường như một thời bà cũng có yêu thương ai đó nhưng cả xóm không biết được người ấy là ai. Hồi Tết Mậu Thân, vùng này rầm rập bước chân quân Giải Phóng. Mọi người bỏ chạy tứ tán, chỉ có mẹ con bà ở lại. Nhà bà là trạm chứa thương binh của quân Giải phóng. Đến khi chiến sự bình lặng rồi, mọi người lần lượt trở về, người ta thấy nhà bà ngày nào cũng nghi ngút khói hương, cô Hai gầy xọp, gặp người quen cô kín đáo quay đi và trên ve áo cô có đính miếng băng tang nho nhỏ. Không ai tò mò hỏi cô nhưng thấy thương cô và lặng lẽ chia sẻ cùng cô nỗi đau thầm kín. Bọn dân vệ xã đến nhà hùng hổ lục soát và hạch tội, bà Hai già ứng đối:
- Việt cộng tới, Quốc gia bỏ chạy, mẹ con tôi đàn bà con gái biết làm sao? Nhà cửa có chi mà sợ mất! Một khi đã tới đây, họ muốn ở đâu, ai cấm nổi!
Chúng quay ra hỏi móc cô Hai:
- Bà già cô còn đó! Anh em thân tộc cô ở xóm ấp này còn sống nhăn! Chắc cô để tang mấy tên Việt Cộng?
Cô giáo trẻ ôn tồn giải thích:
- Tục lệ ông bà từ xưa, hàng xóm chết còn để tang huống chi là bè bạn, kẻ thân người thuộc thiếu gì! Mấy ông hỏi cắc cớ mần chi?!...
Sau ngày giải phóng, thời gian đầu lối xóm cũng thấy mấy ông cán bộ qua lại nhà bà rồi thưa thớt dần. Cô Hai dạy ở trường tiểu học sát bên đình. Bà Hai mở quán chạp phô đầu ngõ. Cuộc sống đạm bạc, thanh bần của hai mẹ con bình lặng qua đi. Với lớp trẻ mới lớn, “cô Hai” đã thành “bà Hai” của họ. Có mấy cán bộ ở Phường, ở Quận nhắc bà làm thủ tục để ông Hai được công nhận là liệt sĩ, nhưng ông chết từ năm cố hỷ nào, biết tìm ai xác nhận cho ông. Ngay đến cái tên thật của chồng bà cũng không còn nhớ nữa, chẳng còn lưu lại mẩu giấy tờ nào! Bà chỉ biết chồng bà chạy xe thổ mộ lên sài Gòn, Chợ Lớn. Khắp vùng này cứ kêu anh “Hai Xe Ngựa” là ai cũng biết. Ngay cả việc công nhận “Gia đình có công với cách mạng” cũng phải qua nhiều thủ tục. Nhà bà là nơi nương náu của cán bộ hoạt động đi về. Với lối xóm bà phải kín như bưng, nhưng bà cũng chỉ biết những người mà bà cưu mang đang làm việc nước chớ đâu biết họ ở đơn vị nào hay chức vụ gì. Bà thương họ cùng chí hướng với chồng bà – những người thấy sự bất bằng chẳng chịu làm ngơ. Bà coi đó như cái đạo làm người, thời nào chẳng vậy, có điều chi phải nói. Đôi lúc ngồi vẩn vơ, nhớ về một hình bóng xa xăm quá vãng, bà lẩm nhẩm chắp nhặt những lời thơ Lục Vân Tiên có lẽ một thời theo chồng đi chợ sớm, trong tiếng lọc cọc đều đều của móng ngựa đập trên con đường đá mấp mô, bà được nghe anh Hai ngang tàng rắn rỏi ngâm những câu thơ khảng khái:
                        Nhớ câu kiến ngãi bất vi  
                        Làm người thế ấy cũng phi anh hùng  
                        Làm trai ơn nước nợ nhà  
                        Thảo cha ngay chúa mới là tài danh
Rồi như để nhắc nhở con, giọng bà ngọt ngào đầm ấm:
                        Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài  
                        Làm ơn há để trông người trả ơn  
                        Nay đà thoát đặng nguồn cơn  
                        Nào ai tính chuyện thiệt hơn làm gì
Giọng bà chùng xuống, chan chứa nhớ nhung:
                        Vân Tiên anh hỡi có hay  
                        Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng...
Trong căn nhà vắng lặng, lời hát ru ấy như tiếng rủ rỉ tâm tình của người đang sống với người đã chết. Nó như một điệp khúc duy nhất tạo nên một âm hưởng thành kính, trang nghiêm đọng lại trong ngôi nhà cổ kính này, ở đấy chỉ có những tường ván bóng láng, sậm nêu mờ mờ phủ bóng thời gian. Trên tấm tủ thờ, ở giữa là bát hương thờ Phật, một bên là bát hương thờ cúng ông bà tổ tiên, một bên là bát hương mẹ con bà thờ ông Hai. Không một tấm hình. Không một mảnh giấy đậm màu son đỏ sắc phong mà lại thấy căn nhà thênh thang, quang quẻ như tấm lòng hai người đàn bà thanh thiết. Có lần bà Hai kêu thợ ảnh tới chụp hình cho mẹ đặng lưu làm kỷ niệm, bà già nhất mực không chịu:
- Cha mầy mất đi không để lại một tấm hình mà lúc nào tao vẫn sống như có ổng. Vui sướng tao chia sẻ với ổng, buồn khổ ổng gánh bớt cho tao. Mai này tao đi theo ổng mà chỉ có một tấm hình tao chưng trên bàn thờ thì thà rằng đừng có còn hơn. Dầu sao thì tao với ổng chẳng bao giờ chịu dời cái nhà này, xa cái xóm ấp này đâu, con ạ!
Nỗi niềm tâm tư của mẹ, bà Hai linh cảm như một lời trăn trối.
Quả đúng như vậy thật. Một hôm, sau khi hàng họ đã xong, bà Hai chăm sóc cho mẹ sạch sẽ, cho bà ăn uống. Bà già vẫn tỉnh táo. Bà Hai khép cửa đi chợ như thường lệ. Khi trở về, bà mang cho mẹ đĩa bánh làm quà. Bà cụ nằm ngay ngắn, gọn gàng, đôi mắt khép lại như đang trong giấc ngủ ngon, nét mặt nhẹ nhõm, bà như vừa thoát xác theo ông, vẫn còn để lại hơi ấm trên người...
Bà Hai Tốt không hốt hoảng. Trước những điều nan giải, gay cấn, cái sự bình lặng tự tin đã trở thành tính cách của mẹ con bà. Với bà, cái ngày này dù đến với mẹ hay đến với chính mình cũng là một điều nhẹ nhàng thanh thản. Bà điềm tĩnh lau rửa lần cuối cùng cho mẹ, mặc vào cho bà cụ bộ áo quần đẹp nhất. Bà xếp lại nệm giường, đặt đầu mẹ trên gối thật ngay ngắn. Bà cúi xuống hôn lên đôi gò má của mẹ già gầy guộc và nấc lên:
- Mẹ ơi, con mất hết cả rồi!
Bà ôm lấy mẹ và gục đầu trên ngực mẹ. Hai mái tóc bàng bạc như sương...                                       Bà ngồi đấy ngắm mẹ hồi lâu. Bà phủ trên mình mẹ tấm mền trắng nhẹ nhàng. Bà buông màn che gió và tém lại gọn gàng rồi bà qua hàng xóm nhờ người đi báo cho bà con thân thuộc.
Đám tang bà Hai Già không ồn ào, ầm ĩ, không kèn trống, không có tiếng khóc nỉ non ai oán. Bà không nhận đồ phúng điếu, ai tới chỉ viếng hương hoa. Bà con lối xóm này nghèo, bà chẳng giúp gì được thì thôi, bà tự lo được cho mình khi sống cũng như khi chết. Cả xóm ấp này đều tụ hội ở đây, nét mặt mọi người buồn thương thành kính. Cả đám trẻ nghèo nhếch nhác cũng theo người lớn tới đây tiễn đưa bà. Chúng không biết lễ. Chúng cũng không sùi sụt giọt ngắn, giọt dài. Đôi mắt chúng vẫn mở to, trong sáng nhưng nét mặt chúng trang nghiêm. Chúng tự bảo nhau không đứa nào dám quậy. Họ hàng muốn được tụng kinh niệm Phật cầu cho bà cụ được siêu thoát nơi miền cực lạc, bà cảm ơn, bà muốn mẹ bà thanh thoát nơi cõi hư vô nhưng bà muốn mẹ bà vẫn quanh quẩn nơi đây che chở cho bà, cho bà con làng xóm – những chúng sinh đầy đau khổ và bất hạnh ở một góc trần gian là cái xóm nghèo này...
Căn nhà trở nên trống vắng bởi chỉ còn có mình bà! Sáu mươi tuổi đầu bà thành kẻ mồ côi! Bà hiểu rằng không ai là ngườisống mãi nhưng cũng không ai muốn côi cút. Bà thật sự cảm thấy lòng mình trống trải, đời mình chông chênh. Phận đàn bà không chồng, không con buồn thật, nhiều lúc thấy cô đơn nhưng bà vẫn giữ được thăng bằng. Còn mẹ, bà còn tất cả: nơi chia sẻ những khổ đau, chỗ dựa vững chắc lúc cảm thấy cuộc đời điên đảo, nguồn khích lệ những niềm vui và trùm lên tất cả là tình thương yêu bao la thuần khiết như dòng nước mát, như cơn gió lạnh, như ngọn lửa hồng xua tan lạnh giá... đã cho bà nguồn sức sống vượt qua mọi trở ngại gian truân và từ đó có được niềm tin lành mạnh ở con người... Những ngày cuối đời, bà cụ già yếu, tàn tật tưởng như mẹ dựa vào con. Bây giờ mẹ mất, bà mới cảm thấy mẹ chính là chỗ dựa thật sự của bà. “Tuổi già hạt lệ như sương!”, bà không còn nước mắt để khóc. Bà thẫn thờ, nhiều lúc thấy người lâng lâng, chơi vơi như muốn bay vào thinh không tìm mẹ… Nhưng cuộc đời còn níu kéo bà. Bà muốn giằng giẫy thoát ra mà không được… Bà con nặng nợ với đời!
Nén nhang trên bàn thờ tỏa ra một tia khói thẳng lên cao rồi lan ra thành những làn khói mù mờ và tan biến đi dưới lớp ngói rêu phong của căn nhà cổ. Không gian tĩnh lặng. Bà đứng rất lâu như một pho tượng đá, mắt bà không chớp hướng lên bàn thờ, đôi môi mấp máy thì thầm, nghe văng vẳng tiếng gọi mơ hồ: “Mẹ ơi! Mẹ ở đâu?!”... Lúc nào bà cũng cảm thấy như mẹ ở đâu đây. Bà không còn thấy mẹ nhưng mẹ vẫn âu yếm nhìn bà. Khi bà sinh ra thì cha đã không còn. Với bà, cha là ảo ảnh và mẹ là hiện hữu. Mẹ là cái gạch nối với cha. Nay mẹ về bên đó, cái gạch nối ấy như đậm nét hơn...
Bà nhìn ra ngõ, người người tấp nập lại qua với muôn dáng vẻ. Bà thấy họ gần gũi mà xa lạ! Giữa họ với bà có gì ràng buộc?... Bà giật mình nhớ tới thằng Út Sọ Dừa! Lâu nay nó biến đi đâu? Ngày bà già mất cũng không thấy nó! Tự dưng lòng bà dâng lên lòng thương cảm: “Tội nghiệp thằng bé, nó không biết mẹ là ai! Cái thằng đàn ông điên khùng ấy có phải là cha nó?”… Bà thấy nhớ nó cồn cào. Lòng bà nôn nao như có ai hối thúc… Bà đứng dậy, đóng cửa và đi nhanh vào cuối xóm...
Cái nhà ấy đây rồi. Cái cửa không cánh mở toang lộ một khoảng ánh sáng nhờ nhờ như tên một mắt trợn trừng! Bà bước vào căn nhà ẩm mốc. Trên cái giường xộc xệch, chiếu đệm xô lệch, rách nát, một người đàn ông nằm nghiêng sấp mặt xuống giường, một chân còn chơi vơi chưa chạm đất. Y nằm đó như một cái xác không hồn. Bà lắc đầu chép miệng định quay ra nhưng cảm thấy thương hại, bà cúi xuống nâng chân hắn đặt lên giường. Người đàn ông lật ngửa, chân tay dang rộng, ngực bụng phanh trần nham nhúa, miệng y phát ra tiếng khò... khò... vừa ngáy vừa rên! Bà muốn phủ lên người nó một tấm mền nhưng nhìn khắp cái giường trống không, bà đành bước ra… Trong tiếng thở dài, nghe thấy bà than thở:
- Mới tí tuổi đầu mà sao cực quá, con ơi!
Sau dãy nhà ổ chuột đó là một con kênh. Cả chục năm nay bà không có việc gì bước tới chốn này. Con kênh tuổi thơ của bà đây, ngày xưa nó bao la trong mát với cây cầu tre dài lắc lẻo vắt qua, bây giờ nó chỉ còn là dòng nước chảy lờ đờ đen đặc, dập dềnh rác rến. Đời người ngắn quá mà bao vật đổi sao dời! Ngày xưa cảnh đẹp, người hiền. Bây giờ làm sao...! Quay về mái nhà xưa, bước chân bà nằng nặng... Lòng bà xót xa cho thằng bé đang tuổi ấu thơ như bà hồi đó... Mấy giọt nước mắt tuôn ra từ đôi mắt già khô cạn. Bà thương nhớ mẹ? Hay bà thương thằng bé?...
Trời tối lâu rồi… Bà Hai dọn dẹp, nhang đèn. Quanh quẩn vào ra không biết gì, bà ngồi thẫn thờ nhìn ra bóng đêm. Lòng bà quạnh hiu. Cánh cổng ngoài rít lên tiếng kèn kẹt của ổ bản lề hoen rỉ. Có ai vô nhà? Bà lặng thinh. Từ trong bóng tối ló dần ra trước khoảng sáng của ánh đèn hắt lên hè, một cái đầu to bù xù như cái sọ dừa quen huộc, đôi mắt to tròn mở rộng vừa u buồn vừa mừng rỡ nhìn bà. Bà thấy tim mình đập rộn ràng, người bà ấm lại. Bà bước mau ra cửa, nắm tay thằng Út kéo nó vô nhà:                                                   
- Bấy lâu nay con đi đâu, Út?
Thằng Út  rụt rè bước theo bà, một tay lúng túng túm vạt áo phồng phồng bên trong. Bà phụ nó lôi ra một… gói bánh. Nó ngập ngừng nhìn lên bàn thờ:
- Con cúng Bà Hai!
- Trời đất! Tiền đâu con mua? Bà Hai hiểu lòng con là được! – Bà trân trọng đặt gói bánh vào một cái đĩa trên bàn thờ. Bà châm một nén nhang rồi nói:
- Cố ơi! Thằng Út Sọ Dừa nó về viếng cố đây nè!
Bà đưa nén nhang cho thằng Út. Nó lóng ngóng cầm nén nhang trong tay. Nó ngước nhìn bà Hai rồi nhìn lên bàn thờ... Nó cúi đầu xuống, cái đầu nó mỗi lúc lại cúi xuống thấp hơn và từ đôi mắt sáng trong hiu hắt buồn của nó lăn ra những giọt lệ trong suốt. Bà Hai nghẹn ngào cầm nén nhang từ tay nó cắm lên bát hương rồi kéo nó vào lòng:
- Con ở đâu về đây? Đã ăn uống gì chưa?
Thằng bé gục đầu vào lòng bà. Lần đầu tiên trong đời, nó được gục đầu vào lòng một người thực sự yêu thương nó. Từ lâu nó mến bà Hai nhưng chưa bao giờ nó dám nghĩ tới một ngày như thế. Bà là mẹ hay là nội, ngoại gì cũng được nhưng bà mãi là bà “Hai” của nó. Nước mắt nó cứ túa trào ra ướt đẫm vạt áo bà...
Bà cho nó ăn uống no nê... Nằm trên bộ ngựa, gối đầu vào lòng bà, nó kể cho bà nghe những ngày nó lang thang, hoang bụi. Nó kể rất hồn nhiên, cũng chẳng có chuyện gì vui, chẳng có chuyện gì buồn. Tất cả những người đi qua đời nó, đâu có ai thương nó và nó cũng chẳng thể đòi hỏi ở họ điều gì. Nó như một cây hoang dại sống giữa thiên nhiên, trân mình chịu nắng táp mưa sa... Mắt nó díp lại lúc nào và nó ngủ thiếp đi.
Bà Hai ngồi yên một tư thế, tránh lay động đến giấc ngủ ngon lành của thằng bé. Lần đầu tiên trong đời, nó được nằm trên một cái giường mát như thế! Cũng là lần đầu tiên bà thấy nó cười, nét cười thỏa mãn tỏa sáng của trẻ thơ! Có lẽ trong mơ nó đang gặp một bà tiên tóc bạc phơ phơ, nét mặt hiền hậu, lời nói dịu dàng, cử chỉ ân tình đang vỗ về, chăm sóc nó... Bà Hai sẽ nâng đầu nó đặt qua chiếc gối. Nó giật mình nắm chặt tay bà và kêu rên đau đớn:
- Hai ơi! – Nó sợ bà tiên đi mất!
 Bà Hai cúi xuống nhìn thằng bé ngây thơ tội nghiệp. Bà vuốt ve lên người nó, nói lời an ủi:                                           
- Cứ ngủ đi con!                                                                  
Thằng Sọ Dừa quen dậy sớm. Khi bà Hai lục tục cho buổi bán hàng sớm mai thì nó cũng dậy lẩn quẩn bên bà. Lâu lâu nó hỏi bà một câu ngây ngô:
- Hai ơi! Người ta mất mẹ thì buồn lắm sao?
- Ừa, vì ở trên đời này chẳng có ai thương mình bằng mẹ!
Nó nghi ngờ:
- Thật vậy không Hai?
Bà càng thêm xót xa cho nó. Nó choàng vai bà và ghé sát bên tai nó hỏi:
- Hai có thương Út thiệt hôn?
Bà quay qua nhìn nó, dịu dàng âu yếm:
- Thiệt! Nhưng con phải nghe lời ta mới được!
Nó gật đầu, ôm chặt vai bà, yêu thương, tin tưởng...
Thằng Út Sọ Dừa từ đó ở với Bà Hai, như hai mẹ con, như hai bà cháu. Nó lăng xăng giúp bà những việc lặt vặt trong nhà. Tối tối nó lại rủ đám bạn bè tới nhà theo lớp học tình thương. Căn nhà lại ấm lên với những tiếng học ê a và rộn ràng tiếng cười trong trẻo hồn nhiên của bầy con trẻ. Dăm ba ngày bà lại bảo nó đem cho cha nó tô canh, tô cơm còn nóng. Lúc đầu nó không chịu, bà ngon ngọt dỗ mãi mà nó vẫn lì ra. Sau bà sẵng giọng:
- Vậy con đã hứa với ta thế nào?
Rồi bà dịu lại:
- Dù là chẳng có tình nhưng đã ở với nhau một ngày cũng là nên nghĩa. Phải biết thương người như thể thương thân, con à!
Những lần đầu, nó đi thăm dò trước. Chỉ khi nào “người đó” vắng nhà hay đang lăn lóc ngủ say, nó mới dám lấm lét bước vô, đặt vội mấy thứ lên giường rồi vọt chạy ra, hệt như ma đuổi!
Người đàn ông đó xưa nay chẳng hề quan tâm đến thằng Út Sọ Dừa. Thằng bé đi về lúc nào tùy ý, thậm chí không về cũng được, mặc cho nó sống chết ra sao! Mấy lần y tình cờ thấy nó loanh quanh đầu hẻm, y chẳng cần hỏi nó làm chi cho thêm vướng bận, vả thằng Sọ Dừa cũng lỉnh nhanh không muốn dây dưa đến hắn làm gì. Bây giờ đột nhiên thấy chuyện lạ lùng, cái đầu óc đặc quánh của y đâu có biết gì những chuyện cổ tích mà tơ tưởng đến Tiên với Phật. Nhưng y cũng chẳng tin chuyện có ma! Làm gì có ma! Người ma thì có! Chính y đây! Và cả cái xóm này thiếu gì ma! Đời này thiếu gì ma! Mà ở quanh đây ai đã xử tốt với y bao giờ? Người nào gặp y cũng đều lánh vội như lánh thằng cùi! Chỉ có mấy “con đĩ  ngựa” lâu lâu về đây tá túc cũng chẳng moi ở y được cái gì, mà y cũng chẳng thèm moi cái gì của chúng. Bọn bay đến nhà tao thì phải ngủ với tao, không thì cút xéo, có vậy thôi! Ngay cả cái cõi đời này nữa, có ai xót thương y! Cha mẹ, làng quê không chấp nhận y… thì y đã bỏ xứ ra đi, cần gì! Đầu đội trời, chân đạp đất, y ở đâu chẳng được.Y vỗ ngực:
- Tao đây, “tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”, tao đếch thèm nhờ cậy thằng nào, ngay cả thằng sinh con đẻ ra tao!                                                                                      
Nhưng y làm gì, chẳng ai cần biết, song rõ ràng là y nhai thì ít mà uống thì nhiều nên y đã thành con “ma men” thật sự như mọi người thường gọi như thế để ám chỉ y...
Hắn tỉnh dậy sau một chầu say tới bến… Y thấy ruột cồn cào, chân tay bủn rủn, rã rời. Cổ y khô rát. Y ngồi dậy mà người thấy nôn nao, nóc nhà với đất đảo điên quay cuồng. Y nhìn một góc đầu giường thấy mấy cái tô. A! Nó đây rồi! Y bò tới. Trời! Tô canh đầy ắp, còn hơi ấm. Y đưa lên miệng nốc xùm xụp một hơi. Chà! Quá đã! Trời đất như dừng lại, trên dưới đâu đấy rõ ràng. Y lấy tay vét hết những cọng rau lẫn thịt cho vào miệng. Cái bao tử thấy êm êm. Y quơ lấy tô cơm, trên có miếng tàu hủ kho và mấy trái đậu bắp. Chà! Ngon quá là ngon! Ngon hơn cả cơm bụi hạng nhất y vẫn từng ăn. Muỗng, nĩa làm gì! Y quăng xuống đất và dùng tay cho gọn. Bụng đã no nê, y vơ cái can đầy nước lã để ở góc giường và làm liền một hơi…
Bây giờ y đã tỉnh hẳn. Đầu óc y thấy sáng láng ra. Ai lo cho hắn thế này? Y lờ mờ cảm thấy thằng Sọ Dừa quẩn quanh ở quán bà Hai Tốt ắt có liên quan đến chuyện này. Phải phăng cho rõ ra mới được! Y bước ra khỏi cửa. Trời xế chiều. Gió từ phía sông thổi tới vừa hôi vừa mát. Y đứng giữa đường. Mấy người đi xe máy dẹp qua bên tránh y. Một thằng bé mắt ngó đi đâu chạm vào người y. Y nắm chặt tay giữ nó lại. Nó hoảng hồn rãy không ra. Y ngồi thụp xuống, hai tay giữ chặt thằng bé, hỏi nó vẻ hiền lành:
- Này mày biết thằng Sọ Dừa nhà tao bấy lâu nó ở đâu?
Thằng bé vừa cười, vừa gỡ tay y và trả lời như trách:
- Ông này kỳ! Lâu nay nó ở quán bà Hai Tốt. Bả chả thường biểu nó mang cơm cho ông ăn mà sao ông không biết?!
Nó vùng mạnh thoát khỏi tay y và chạy vọt đi…
Y đứng lên tần ngần. Đột nhiên y ngẩng mặt nhìn trời. Lần đầu tiên ở đây người ta thấy y ngẩng mặt lên và chính y cũng không nhớ đã từ bao lâu y không nhìn lên trời nữa! Giờ đây y thấy lạ: trời cao quá và xanh quá, có vài ngôi sao nhỏ mờ mờ nhấp nháy. Đột nhiên y nghĩ: “Chắc là trên ấy có Trời!” và y quay bước vào nhà… Qua cái cửa lúc nào cũng mở toang, trong nhà lờ mờ tăm tối. Nhìn mấy cái tô cái đĩa lỏng chỏng lơ chơ trên giường, y đứng lặng hồi lâu, rồi bỗng y quỳ thụp xuống, hai tay chắp lại, cúi đầu vái lạy, miệng thốt lên:
- Con lạy Bà! Con kính lạy hai Bà! Sao các bà không đẻ ra con?
Y gục đầu xuống giường khóc nấc lên tức tưởi.
Tiếng y khóc vừa như muốn rống lên, vừa như nghẹn lại hệt như con heo bị bịt mũi mồm khi người ta chọc tiết. Mấy đứa nhỏ thấy chuyện kỳ lạ đứng bu ngoài cửa nhìn vào. Chúng vừa toác miệng ra cười vừa kháo nhau:
- Ổng nổi cơn khùng đấy!
Lớp học vừa tan, thằng Sọ Dừa còn nằm bò trên bộ ngựa loay hoay làm lại mấy phép tính cho rành, bà Hai dọn dẹp nhang đèn như thường lệ. Bỗng có tiếng động kỳ lạ, bà và thằng bé ngước nhìn lên. Mặt thằng bé tái xanh và nó chạy tới níu áo núp sau bà! Bà bình tĩnh nhìn người khách lạ: Y chính là cha của thằng Út Sọ Dừa! Hai nách y cặp hai chai rượu, hai bàn tay y đan móc vào nhau, đầu y cúi xuống vẻ cung kính, mặt y không có vẻ gì dữ tợn. Bà điềm tĩnh hỏi:
- Thằng Hai! Bây tới đây có việc chi?
Y đặt hai chai rượu lên bàn nói giọng lễ phép:
- Con xin bà cho con được viếng bà Hai! – Một tay y giơ lên chai rượu, một tay chỉ chai kia:
- Chai này con để cúng bà Hai. Còn chai này là để... cúng con! – y cười làm lành.
Bà Hai đỡ chai rượu đặt lên bàn thờ, thắp nén nhang và đưa cho hắn. Hắn chắp hai tay giơ cao nén nhang trên cái đầu cúi gục, hắn nói vẻ tôn kính thật lòng:
- Ngày Bà về Trời, con không dám đến viếng vong linh Bà… sợ làm dơ dáy chốn linh thiêng! Bà ơi! Bà tha tội cho con vì con được sống gần Bà mà không đáng sợi lông, sợi tóc của Bà! – cái đầu y gật gật rung rung…
Khi y cầm nén nhang cắm trên bát hương, dưới ánh đèn nhạt nhạt thấy y đầm đìa nước mắt. Thằng Út ngơ ngác nhìn bà Hai, nhìn người đàn ông vừa gần gũi vừa xa lạ ấy mà không hiểu ra sao!
Y bước ra gần cửa, hai tay chắp lại, đầu cúi xuống, hướng về phía bà Hai, y nói:
- Con xin mẹ tha thứ cho con. Con là thằng bỏ đi, chẳng đáng làm người! – y chỉ vào thằng Út và nói với bà:
- Con cũng không biết thằng này có phải là con của con không nữa! Con chẳng ra gì nên con không muốn nó ở với con! Nó được nương tựa cửa bà là phước cho cho nó và con đội ơn bà! – đầu y cúi xuống thấp hơn, vẻ cung kính cầu xin thật sự…
Y cầm chai rượu trên bàn định quay ra. Bà Hai cầm chai rượu và gói bánh trên bàn thờ đưa cho y và nói:
- Anh mang về nhà lộc của Bà!
Y cắp hai chai rượu vào hai bên nách, hai tay nâng gói bánh trước ngực, lễ phép quay ra. Dường như lúc này thằng Út mới yên lòng, nó cầm hai tay bà Hai lắc lắc:
- Hai đưa thêm chai rượu là ổng nốc hết ổng chết đó, Hai ớ! Ông khùng khùng điên điên lắm!
Bà từ tốn nói:
- Nó khùng có lúc thôi con ạ! Người ta mỗi người một cảnh. Đã chẳng ai thương xót gì mình thì thôi có cần chi!
Trên đường về nhà, lòng y vừa mừng vừa tủi. Lâu lắm rồi, hôm nay y mới lờ mờ cảm thấy dường như vừa làm được một việc gì đó đàng hoàng, tử tế. Y hài lòng về mình, đặt hai chai rượu và gói bánh trên giường, y ngồi xuống và tự thưởng cho mình. Y làm mấy ly liền! Rượu hôm nay ngon thế! Đầu óc thấy lâng lâng! Y nghĩ: “Đời vẫn chưa hết người tử tế và mình còn biết tử tế với đời!”. Y thưởng cho đời, y thưởng cho mình liên tục. Rồi y lẫn lộn giữa đời với y:
- Đời là cái quái gì? Mình là cái quái gì? – y nâng ly rượu:
- Đời đây! – y uống vào cái ực:
- Tao đây! – y cầm chai rượu giơ lên, cười thoả mãn:
- Mày làm sao say? hay mày làm tao sướng? Sướng hay say cũng không biết nữa! Đã thế tao phải uống cho say! Say để mà quên!
Một chai đã lăn lóc trên giường. Một chai đã thấy vơi vơi. Bây giờ thì y đã nhớ nhớ quên quên:
- Cha mẹ là cái thằng con chó đẻ nào? mình đâu cần nhớ! Nó để mình bù lăn bù lóc giữa đời!… Mà đời đểu thật: lừa lọc! giật giọc! hiếp đáp! giả nghĩa giả nhân!… Người với người như sói!…
Đến khi cả chai rượu thứ hai cùng lăn lóc trên giường thì y cũng thật là say và cũng thật là quên! Hai tay y quơ hai cái chai và nằm vật ngửa ra giường… Y còn kịp nhớ một điều chính xác: có ba cái chai lăn lóc trên giường, hai chai cạn khô và một chai đầy rượu! Đầy quá thì nó phải trào ra! Y nôn thốc nôn tháo tung toé ra giường… Rồi y thấy ruột xót như bào và khô rang cái họng… Y ngồi dậy, quờ quạng bước đi… Y đá vào cái vách tôn kêu rổn rảng… Y lùi lại… Rồi y lại đá! Đến khi không có cái gì cản bước y đi, thế là y đã qua cửa và bước ra sân… Cha chả là mát nhưng cổ vẫn khát! Phải tìm nước uống… Y khật khưỡng bước đi…
Trời khuya lắm rồi, cũng chỉ mấy anh nhậu xỉn hoặc đi “cua gái” trở về mới lần mò trong đêm như vậy. Những người đó thì chẳng ai thèm để ý đến ai! Bây giờ các bộ phận trên cơ thể y hoạt động hoàn toàn tự phát, không còn do cái đầu điều phối: Mắt mở mà chẳng nhìn rõ cái gì. Tai chỉ nghe độc cái giọng lè nhè của hắn. Miệng la lảm nhảm như chỉ là để hà bớt hơi ra cho đỡ nóng trong người. Tay quờ quạng lung tung. Chân lảo đảo đi về đâu cũng được... Thế là hai cái chân liêu xiêu đưa y ngập dần xuống dòng sông cuối xóm…
Cảm giác mát lạnh làm y mang máng nhớ đến dòng kênh, hứng chí, miệng y lè nhè buột ra câu ca cổ: “Sông dài… cá lội biệt tăm… Sông dơ cá có còn đâu… mà mò!”… Y cười khặc khặc:
- Không mò được cá thì uống cho đỡ khát! – y loáng thoáng nhớ đến dòng nước hôi đen, nhưng y triết lý:
- Ôi dơ thì dơ, cần cái cóc khô gì!…  Mà sông ơi, mày với tao đứa nào dơ hơn? Mày làm tao dơ hay tao làm dơ mày? Cả mày với tao đều dơ thì uống vào đâu có sợ gì! –  y vục đầu xuống dòng kênh hôi hám...
Mấy ngày sau, người ta tình cờ phát hiện ra xác y kẹt ở bờ rau muống! Bà Hai Tốt đóng góp tích cực vào việc quyên góp từ thiện để ma chay cho người vô chủ. Đám tang y chỉ có bốn người: ông đại diện tổ dân phố, anh cảnh sát khu vực, bà Hai Tốt và thằng Út Sọ Dừa – Bà Hai đặt trên đầu nó cái nón tang rơm. Lúc nào nó cũng nắm tay bà và đi theo bà từng bước...

Tôi đã nhiều lần đến thăm bà Hai Tốt để tìm hiểu về lớp học tình thương.
Thằng Út Sọ Dừa là đứa trẻ dễ thương, mặt mày sáng sủa, đôi mắt tinh nhanh nhưng nó có vẻ nhút nhát, ít muốn tiếp xúc với ai. Hỏi về việc học của nó, bà Hai cho biết: Nó học cũng tạm được, nếu xin ngang vào trường thì khó vì nó đâu có học bạ, chứng chỉ gì đâu! Để bà dạy kèm cho nó mau qua tiểu học, chừng nào lên lớp Sáu sẽ xin vào “Trường Bổ túc”. Tôi hỏi bà có đặt cho nó cái tên nào vì nó ngày một lớn? bà cũng nghĩ rồi:
- Thôi, cứ đặt tên cho nó là Tốt vậy… Ở đời sống để thành người tốt đâu có dễ!
Muốn cho thằng Út nhập vào hộ khẩu với bà còn là chuyện khó vì nó chẳng phải là cháu, chẳng phải là con. Có người gợi ý cho bà làm thủ tục nhận con nuôi, bà nói:
- Nhận nó làm con nuôi là bắt nó phải trả nghĩa cho mình! Chỉ làm một việc nhỏ mà bắt người khác phải ràng buộc vào mình lại là điều vô nghĩa! Coi như tôi giúp đỡ một người gặp khó!
Theo đà đô thị hoá, đường xá rộng mở, phố phường nhà cửa khang trang. Kế bên nhà bà là khu siêu thị. Ngôi nhà cũ kỹ nhỏ nhoi có sân trước, vườn sau rộng mấy trăm mét vuông, vẫn một hàng ruối già lơ thơ xơ xác bao quanh, chẳng khác gì bà lão già nua cổ lỗ đứng bên đàn thanh niên nam nữ sinh đẹp, trang phục tân kỳ. Tôi hỏi lửng bà:
- Đất nhà khu này cao giá lắm, dì Hai?
Hiểu ý tôi, bà trút niềm tâm sự:
- Tôi sống vậy được rồi! Cả đời làm lụng, tằn tiện cũng đủ lo cho mình sống chết chẳng phiền ai. Mồ hôi công sức của ông bà, cha mẹ không dưng qua tay người khác xót xa lắm chớ! Tôi sẽ để lại di chúc khi tôi qua đời, tôi hiến cho Nhà nước lấy chỗ này làm trường học hoặc nhà nuôi trẻ mồ côi. Tôi chỉ lo một điều: “Liệu người ta có làm đúng như vậy chăng? Kẻo tội nghiệp ông bà, cha mẹ tôi lắm!”
Tôi rất xúc động và khâm phục bà nhưng vẫn thấy trong lòng phân vân. Tôi thành kính cầu chúc bà đại thọ và tôi cũng mơ tới một ngày chính tại nơi đây sẽ là một trường học đẹp đẽ, khang trang vẫn giữ y nguyên cái tên dân dã mà cao quý: “Trường Bà Hai Tốt”...
                                                                       
                                                             Tháng 07 năm 1998
                                    Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn VIỆT NAM
                                                Số 35 (2067) – ngày 28/8/1999

No comments:

Post a Comment