BÀ HAI TỐT
{
Mọi người gọi bà
là “bà Hai Tốt” dù chẳng ai biết tên thật của bà. Ở cái xóm nghèo của quận
GòVấp này ai cũng biết bà. Nhà bà ở ngay đầu hẻm. Cái ngôi nhà gạch cổ lỗ thấp
lè tè lợp bằng những viên ngói âm dương cong cong sấp ngửa, mốc meo, được mọi
người gọi là “quán Bà Hai Tốt”. Có người còn gọi bằng cái tên thật trân
trọng:”Trường học Hai Bà”. Chẳng là trong ngôi nhà ấy có hai bà già: một mẹ,
một con. Gọi là quán vì nó là một tiệm chạp phô nho nhỏ kèm theo hai buổi cơm
trưa, sớm. Gọi là trường vì có lúc ban đêm nó là lớp học cho đám trẻ bơ vơ
nhưng có người còn nói rằng vì cuộc đời của hai bà như một tấm gương cho bà con
xóm ấp. Khách mua là những dân nghèo trong xóm, lúc đặt nồi cơm lên bếp mới lật
đật chạy ra mua mấy lon gạo, hũ chao, bịch mắm, ba thứ đồ khô... với mấy đồng
tiền nhàu nát nằm gọn lỏn trong lòng bàn tay nhem nhuốc, có khi còn thiếu nợ…
Đến khi con nợ trả tiền, hai bà mới nhớ. Vậy mà không có ai xù nợ quán bà.
Khách ăn là những anh thợ hồ, những chú xích lô, ba gác, xe thồ... Học trò là
những đứa bụi đời: bán vé số, nhặt ve chai, lang thang hè phố... Nói chung
những người đến đây đều lam lũ và nghèo.
Cái tên Bà Hai Tốt không biết được thành
danh từ lúc nào, nó như là một cái tên riêng của cái quán ấy, để chỉ hai bà già
ấy. Khi cần phân biệt rạch ròi, người ta kêu bà Hai Già, và bà Hai Cô Giáo. Các
bà là người thổ địa xứ này nhưng những người gốc gác tại đây chẳng là bao so với số đông người tứ xứ tới
ngu cự. Những người kỳ cựu ở đây biết rằng những năm trước, bà Hai Già ngồi bán
quán và cô Hai – con gái bà, đi dạy học.
Mấy năm nay bà Hai đã già yếu, cô Hai đã luống tuổi nên ở nhà vừa trông quán
làm kế sinh nhai vừa trông bà mẹ già bán
thân bất toại. Thấm thoắt tóc cô ngả màu bông gần như tóc mẹ lúc nào không ai
hay… Những người đến sau đâu dám gọi bằng cô nữa, thế là quán ấy có hai bà.
Quán cơm của bà Hai Tốt toàn những món ăn bình dân mà những tô cơm thì hợp với
bao tử của người lao động. Quán của bà là quán ăn chứ không nhậu nên cả chục
năm nay sớm trưa tuy đông khách nhưng không có chuyện ồn ào.
Vùng này trứơc đây thưa vắng, lèo tèo
chỉ mấy ngôi nhà, đất ao, đất ruộng thấp cao, vườn tược hoang vắng bịt bùng,
chiều muộn người trong thành phố có việc
qua đây mắt trước mắt sau bước vội. Vậy mà theo làn sóng người nhập cư, xóm này
đã đặc kín nhà, lối ngõ chật hẹp, mấp mô. Người đông sinh lắm chuyện, cái vùng
ven đô không còn yên ả như ngày xưa nữa. Người lớn say sưa, cờ bạc, đĩ điếm,
trộm cướp. Trẻ con hoang bụi, thất học, đua đòi. Khu phố tổ chức “lớp học tình
thương”, lúc đầu xem vẻ xôm tụ lắm nhưng tẻ nhạt dần. Người học lưa thưa, người
dạy nản lòng bữa có bữa không. Lớp học rệu rã rồi chỉ còn lỏng chỏng lơ chơ mấy
chiếc bàn, chiếc ghế què quặt, ẩm mốc tả tơi. Cả thầy và trò không ai lưu
luyến...
Nhìn mấy đứa trẻ lêu bêu trong xóm, tấm
lòng nhà giáo trong lòng bà Hai nhoi nhói, ngặt vì mẹ bà nằm liệt giường nên bà
không thể vắng nhà, nhưng lòng bà như có gì thôi thúc. Bà nghỉ cái nghề giáo
không phải vì đồng lương ít ỏi, mà vì hoàn cảnh của bà. Bao nhiêu năm dạy học
miệt mài, bà đã hiểu được rằng cái nghề nhà giáo chẳng mang lại sự giàu sang,
quyền chức. Vi yêu người mà quyến luyến gắn bó với nghề thôi, rồi coi nó như là
cái nghiệp của đời người. Lòng bà nhân ái và đôn hậu được mọi người mặc nhiên
gọi là bà Hai Tốt với lòng yêu mến, kính trọng cũng là bà được hưởng lộc từ tấm
lòng nhân hậu của mẹ bà.
Khách quán bà có nhiều con nít đủ lứa,
từ lóc nhóc 5-7 tuổi tới đứa 15-17 tuổi lấc bấc lơ bơ. Những đứa trẻ lông bông
ấy thường khi đói chúng tìm đến quán bà vì dù ít tiền chúng cũng được đầy cơm
vào cái dạ dày trẻ dễ dàng thun dãn. Chúng gọi bà bằng đủ loại ngôi thứ: Ngoại!
Nội! Bà Hai! Dì Hai! Cô Hai!... Nét mặt bà nghiêm nghị nhưng bà biểu lộ tình
thương yêu chúng bằng lời nói nhẹ nhàng và những cử chỉ thân tình: “Đói lắm hả
con?”. “Mấy hôm nay bé Diệu đi đâu?”. “Chớ chưởi thề quen miệng!”... Và bà chủ
động thêm cơm, thêm canh vào những cái dĩa, cái tô cạn kiệt...
Một hôm bà biểu mấy đứa nhỏ:
- Tối đừng có lang thang xó chợ đầu hè,
đứa nào muốn học lại đây, cô dạy!
Hôm đầu có mấy đứa loe ngoe. Chúng đến tay
không vì chúng không biết đi học cần những đồ gì. Bà đã chuẩn bị cả xấp tập và
tá bút bi. Tan học, bà bảo chúng xếp bút, tập nơi góc kệ, chớ về nhà chỗ đâu mà
để. Chỉ còn bà trong đêm vắng vẻ, bà lần giở tập vở của lớp học trò đặc biệt,
nhìn những dấu vết ngón tay lem luốc trên những trang giấy trắng tinh, bà bồi
hồi nhớ lại từng đứa một...
Dần dà bọn nhỏ rủ rê nhau đến học cho
vui, có lúc hàng chục đứa chen chúc trên mấy cái bàn ban ngày được dùng làm bàn
ăn của khách. Tối tối, từ cái quán lẹp xẹp ấy vang lên những tiếng ê a học bài
và rộn ràng những tiếng cười trong trẻo hồn nhiên, đố ai biết được đó là tiếng
cười của những đứa trẻ đói nghèo?! Chúng chấp nhận cảnh ngộ một cách vô tư bởi
chúng chưa biết bon chen, ganh tị với đời. Trong đám học trò ấy có thằng bé
loắt choắt 9-10 tuổi, có cái đầu to với mái tóc xoắn rối tít bù xù đặt trên cái
cổ gầy guộc, được bọn trẻ gọi là “thằng Út Sọ Dừa”. Mặt nó lem lúa lại càng nổi
lên đôi mắt to và sáng. Nó ít nói, ít cười, vẻ mặt đăm chiêu như lúc nào cũng
vương vấn một sự lo toan. Trong lớp, nó thường ngồi chăm chú, đôi mắt mở to
nhìn bà Hai. Khi cần nó mới gọi bà chỏng chơ theo thứ: “Hai ơi!” và nó nói lí
nhí, bà phải ghé sát bên nó mà nghe. Mỗi khi nó vắng mươi ngày, bà thấy nhớ và
lo âu hỏi tụi nhỏ: “Thằng Út Sọ dừa đâu, bấy nay không thấy?!”... Tan học, mấy
đứa ra về hết, nó thường lừng chừng nán lại nhìn bà quyến luyến, nhiều khi nó
len lén móc ra từ sau vạt áo khi trái ổi, trái cóc, trái mận, trái mãng cầu...
đặt vội lên bàn rồi chạy lẹ ra ngoài cửa. Bà Hai nâng niu món quà đơn sơ ấy và
nhìn theo hút bóng nó lẩn trong đêm...
Không ai để ý thằng Út Sọ Dừa có mặt ở
xóm này từ lúc nào. Không ai quản lý nổi những người nhập cư, một nhà nhưng hai
ba cặp ở. Khôngai để ý người nào đến trước, đến sau. Họ ở đấy. Họ đẻ con. Họ bỏ
đi biệt tăm. Cũng có ngươi quay lại dắt thêm bạn mới hoặc kèm thêm một hai đứa
nhỏ lóc nhóc không hiểu là con đẻ hay con “từ thiện”. Khi mọi người phát hiện
ra thằng bé có cái đầu to tướng bù xù như cái sọ dừa thì người ta biết là nó ở
gần cuối xóm, trong một túp lều xơ xác: mái nhà là những mảnh giấy dầu xen lẫn
với những mảnh nilon đủ màu tơi tả, vách là những tấm tôn hoen rỉ, lỗ chỗ những
vết thủng nhỏ to thay cho cửa sổ và những mảnh “cạc ton” đủ loại. Trong túp lều
ấy có một người đàn ông không ai rõ mặt, rõ tuổi vì anh ta đi về không theo một
giờ giác cố định nào và mặt anh ta lúc nào cũng cúi gằm xuống, mồ hôi, cát
bụi... như một lớp sơn dầu phủ đầy khuôn mặt không rõ hình thù, nó dầy dầy,
nhừa nhựa, đờ đờ. Tất cả những biểu hiện cảm xúc của con người ấy thể hiện qua
những âm thanh eo éo phì phò phát ra từ một cái loa rè rỉ mấp mô hai hàm răng
xỉn với những lỗ hổng đen ngòm... Cũng không ai biết rõ mối quan hệ của người
đàn ông ấy với thằng bé Sọ Dừa. Nếu theo cách xưng hô thì thật là khó đoán, vì
người ta thấy chúng chỉ cẳn nhẳn, cằn nhằn nhau một cách cộc lốc theo ngôi thứ
nhất, thứ hai là tao, tôi với ông, mày mà thôi. Người ta đoán chừng chúng là
cha con có lẽ tính theo tuổi tác và chiều cao nhân thể, bởi vì xem ra hai con
người ấy chẳng có gì ràng buộc với nhau: ai muốn đi đâu lúc nào tùy ý, có trở
về hay không cũng mặc! Mỗi người sống ra sao, chẳng ai cần bận tâm đến ai! Cái
gọi là nhà cũng như cái lán công cộng cho chúng nghỉ tạm qua đêm. Có lúc người ta nghe tiếng la hét phì phò như
từ cái bễ lò rèn và thằng Sọ Dừa từ trong nhà lao ra, cắm đầu chạy tuốt, không
hề ngoái cổ lại sau. Rồi một ngày nào đó lại thấy nó tha thẩn về và chui vào
cái ổ chuột hôi mù. Đôi khi người ta thấy trong nhà thấp thoáng bóng đàn bà. Êm
đềm mấy bữa rồi đột nhiên từ cái loa rè rỉ phát ra tiếng eo éo phì phò
- Cái giống đàn bà đĩ ngựa, bạ đâu cũng
quệt, cút xéo mẹ mày đi!
Đáp lại là một giọng chu chéo không vừa:
- Thằng đàn ông khốn nạn, làm ít ăn
nhiều, lúc nào cũng như cái hũ hèm, ngủ với vợ như chó, ai mà chịu được?!
Rồi tiếng la oai oải, tiếng chửi thề,
tiếng người vật lộn nhau huỳnh huỵch, tiếng tấm ván tôn hoen rỉ rung rung như
người tắc nghẹn...
Chẳng ai ngó vào cái căn nhà tã rách ấy
ngoài mấy đứa nhỏ hiếu kỳ từ xa nhìn vào rồi toét miệng cười hể hả. Ở cái xóm
này thiếu gì những chuyện kỳ dị, lăng loàn đủ loại...
Ấy vậy mà ai cũng kính trọng bà. Người
dân tại chỗ nể bà vì biết ông cố, ông sơ bà thuộc lớp người khai phá mảnh đất
này. Lớp người già biết bà mồ côi cha từ khi còn trong bụng mẹ. Có người còn
nhớ hồi “loạn Canh Thìn” – cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 do Đảng Cộng sản
lãnh đạo, anh “Hai Xe Ngựa” là một trai làng hăng hái đứng ra hô hào bà con ấp
trên ấp dưới nổi dậy đánh Tây. Chính ở gần đầu đình ngoài kia, anh cầm cây
phảng rượt cả một tốp lính chạy dài. Rồi anh bị trúng đạn ngã xuống… Xác anh nó
lôi ra phơi giữa ngã ba đường, tới khi thi thể trương phình, người qua lại
không ai chịu nổi, thằng cò Lơ Kéc khét tiếng tàn ác mới chịu cho vợ anh lặc lè
bụng mang dạ chửa cùng với mấy người thân tộc đem xác đi chôn! Từ “con Bé Hai”
đến “Chị Hai” rồi “cô Hai” và bây giờ là “bà Hai Tốt”, bà sinh ra, lớn lên, già
đi và đang âm thầm tàn tạ trên mảnh đất này.
Hai mẹ con bà sống lặng lẽ theo những
tháng ngày trôi, trải qua bao nhiêu lần thế sự đổi thay, cái xóm này vẫn nghèo
truyền kiếp và những người cũ, mới đang sống ở đây đều thấy ở mẹ con bà cách
sống chuẩn mực của người lương thiện. Dường như một thời bà cũng có yêu thương
ai đó nhưng cả xóm không biết được người ấy là ai. Hồi Tết Mậu Thân, vùng này
rầm rập bước chân quân Giải Phóng. Mọi người bỏ chạy tứ tán, chỉ có mẹ con bà ở
lại. Nhà bà là trạm chứa thương binh của quân Giải phóng. Đến khi chiến sự bình
lặng rồi, mọi người lần lượt trở về, người ta thấy nhà bà ngày nào cũng nghi
ngút khói hương, cô Hai gầy xọp, gặp người quen cô kín đáo quay đi và trên ve
áo cô có đính miếng băng tang nho nhỏ. Không ai tò mò hỏi cô nhưng thấy thương
cô và lặng lẽ chia sẻ cùng cô nỗi đau thầm kín. Bọn dân vệ xã đến nhà hùng hổ
lục soát và hạch tội, bà Hai già ứng đối:
- Việt cộng tới, Quốc gia bỏ chạy, mẹ
con tôi đàn bà con gái biết làm sao? Nhà cửa có chi mà sợ mất! Một khi đã tới
đây, họ muốn ở đâu, ai cấm nổi!
Chúng quay ra hỏi móc cô Hai:
- Bà già cô còn đó! Anh em thân tộc cô ở
xóm ấp này còn sống nhăn! Chắc cô để tang mấy tên Việt Cộng?
Cô giáo trẻ ôn tồn giải thích:
- Tục lệ ông bà từ xưa, hàng xóm chết
còn để tang huống chi là bè bạn, kẻ thân người thuộc thiếu gì! Mấy ông hỏi cắc
cớ mần chi?!...
Sau ngày giải phóng, thời gian đầu lối
xóm cũng thấy mấy ông cán bộ qua lại nhà bà rồi thưa thớt dần. Cô Hai dạy ở
trường tiểu học sát bên đình. Bà Hai mở quán chạp phô đầu ngõ. Cuộc sống đạm
bạc, thanh bần của hai mẹ con bình lặng qua đi. Với lớp trẻ mới lớn, “cô Hai”
đã thành “bà Hai” của họ. Có mấy cán bộ ở Phường, ở Quận nhắc bà làm thủ tục để
ông Hai được công nhận là liệt sĩ, nhưng ông chết từ năm cố hỷ nào, biết tìm ai
xác nhận cho ông. Ngay đến cái tên thật của chồng bà cũng không còn nhớ nữa,
chẳng còn lưu lại mẩu giấy tờ nào! Bà chỉ biết chồng bà chạy xe thổ mộ lên sài
Gòn, Chợ Lớn. Khắp vùng này cứ kêu anh “Hai Xe Ngựa” là ai cũng biết. Ngay cả
việc công nhận “Gia đình có công với cách mạng” cũng phải qua nhiều thủ tục.
Nhà bà là nơi nương náu của cán bộ hoạt động đi về. Với lối xóm bà phải kín như
bưng, nhưng bà cũng chỉ biết những người mà bà cưu mang đang làm việc nước chớ
đâu biết họ ở đơn vị nào hay chức vụ gì. Bà thương họ cùng chí hướng với chồng
bà – những người thấy sự bất bằng chẳng chịu làm ngơ. Bà coi đó như cái đạo làm
người, thời nào chẳng vậy, có điều chi phải nói. Đôi lúc ngồi vẩn vơ, nhớ về một
hình bóng xa xăm quá vãng, bà lẩm nhẩm chắp nhặt những lời thơ Lục Vân Tiên có
lẽ một thời theo chồng đi chợ sớm, trong tiếng lọc cọc đều đều của móng ngựa
đập trên con đường đá mấp mô, bà được nghe anh Hai ngang tàng rắn rỏi ngâm
những câu thơ khảng khái:
Nhớ
câu kiến ngãi bất vi
Làm
người thế ấy cũng phi anh hùng
Làm
trai ơn nước nợ nhà
Thảo
cha ngay chúa mới là tài danh…
Rồi như để nhắc nhở con, giọng bà ngọt
ngào đầm ấm:
Nhớ
câu trọng nghĩa khinh tài
Làm
ơn há để trông người trả ơn
Nay
đà thoát đặng nguồn cơn
Nào
ai tính chuyện thiệt hơn làm gì…
Giọng bà chùng xuống, chan chứa nhớ
nhung:
Vân
Tiên anh hỡi có hay
Thiếp
nguyền một tấm lòng ngay với chàng...
Trong căn nhà vắng lặng, lời hát ru ấy
như tiếng rủ rỉ tâm tình của người đang sống với người đã chết. Nó như một điệp
khúc duy nhất tạo nên một âm hưởng thành kính, trang nghiêm đọng lại trong ngôi
nhà cổ kính này, ở đấy chỉ có những tường ván bóng láng, sậm nêu mờ mờ phủ bóng
thời gian. Trên tấm tủ thờ, ở giữa là bát hương thờ Phật, một bên là bát hương
thờ cúng ông bà tổ tiên, một bên là bát hương mẹ con bà thờ ông Hai. Không một
tấm hình. Không một mảnh giấy đậm màu son đỏ sắc phong mà lại thấy căn nhà
thênh thang, quang quẻ như tấm lòng hai người đàn bà thanh thiết. Có lần bà Hai
kêu thợ ảnh tới chụp hình cho mẹ đặng lưu làm kỷ niệm, bà già nhất mực không
chịu:
- Cha mầy mất đi không để lại một tấm
hình mà lúc nào tao vẫn sống như có ổng. Vui sướng tao chia sẻ với ổng, buồn
khổ ổng gánh bớt cho tao. Mai này tao đi theo ổng mà chỉ có một tấm hình tao
chưng trên bàn thờ thì thà rằng đừng có còn hơn. Dầu sao thì tao với ổng chẳng
bao giờ chịu dời cái nhà này, xa cái xóm ấp này đâu, con ạ!
Nỗi niềm tâm tư của mẹ, bà Hai linh cảm
như một lời trăn trối.
Quả đúng như vậy thật. Một hôm, sau khi
hàng họ đã xong, bà Hai chăm sóc cho mẹ sạch sẽ, cho bà ăn uống. Bà già vẫn
tỉnh táo. Bà Hai khép cửa đi chợ như thường lệ. Khi trở về, bà mang cho mẹ đĩa
bánh làm quà. Bà cụ nằm ngay ngắn, gọn gàng, đôi mắt khép lại như đang trong
giấc ngủ ngon, nét mặt nhẹ nhõm, bà như vừa thoát xác theo ông, vẫn còn để lại
hơi ấm trên người...
Bà Hai Tốt không hốt hoảng. Trước những
điều nan giải, gay cấn, cái sự bình lặng tự tin đã trở thành tính cách của mẹ
con bà. Với bà, cái ngày này dù đến với mẹ hay đến với chính mình cũng là một
điều nhẹ nhàng thanh thản. Bà điềm tĩnh lau rửa lần cuối cùng cho mẹ, mặc vào
cho bà cụ bộ áo quần đẹp nhất. Bà xếp lại nệm giường, đặt đầu mẹ trên gối thật
ngay ngắn. Bà cúi xuống hôn lên đôi gò má của mẹ già gầy guộc và nấc lên:
- Mẹ ơi, con mất hết cả rồi!
Bà ôm lấy mẹ và gục đầu trên ngực mẹ.
Hai mái tóc bàng bạc như sương... Bà
ngồi đấy ngắm mẹ hồi lâu. Bà phủ trên mình mẹ tấm mền trắng nhẹ nhàng. Bà buông
màn che gió và tém lại gọn gàng rồi bà qua hàng xóm nhờ người đi báo cho bà con
thân thuộc.
Đám tang bà Hai Già không ồn ào, ầm ĩ,
không kèn trống, không có tiếng khóc nỉ non ai oán. Bà không nhận đồ phúng
điếu, ai tới chỉ viếng hương hoa. Bà con lối xóm này nghèo, bà chẳng giúp gì
được thì thôi, bà tự lo được cho mình khi sống cũng như khi chết. Cả xóm ấp này
đều tụ hội ở đây, nét mặt mọi người buồn thương thành kính. Cả đám trẻ nghèo
nhếch nhác cũng theo người lớn tới đây tiễn đưa bà. Chúng không biết lễ. Chúng
cũng không sùi sụt giọt ngắn, giọt dài. Đôi mắt chúng vẫn mở to, trong sáng
nhưng nét mặt chúng trang nghiêm. Chúng tự bảo nhau không đứa nào dám quậy. Họ
hàng muốn được tụng kinh niệm Phật cầu cho bà cụ được siêu thoát nơi miền cực
lạc, bà cảm ơn, bà muốn mẹ bà thanh thoát nơi cõi hư vô nhưng bà muốn mẹ bà vẫn
quanh quẩn nơi đây che chở cho bà, cho bà con làng xóm – những chúng sinh đầy
đau khổ và bất hạnh ở một góc trần gian là cái xóm nghèo này...
Căn nhà trở nên trống vắng bởi chỉ còn
có mình bà! Sáu mươi tuổi đầu bà thành kẻ mồ côi! Bà hiểu rằng không ai là
ngườisống mãi nhưng cũng không ai muốn côi cút. Bà thật sự cảm thấy lòng mình
trống trải, đời mình chông chênh. Phận đàn bà không chồng, không con buồn thật,
nhiều lúc thấy cô đơn nhưng bà vẫn giữ được thăng bằng. Còn mẹ, bà còn tất cả:
nơi chia sẻ những khổ đau, chỗ dựa vững chắc lúc cảm thấy cuộc đời điên đảo,
nguồn khích lệ những niềm vui và trùm lên tất cả là tình thương yêu bao la
thuần khiết như dòng nước mát, như cơn gió lạnh, như ngọn lửa hồng xua tan lạnh
giá... đã cho bà nguồn sức sống vượt qua mọi trở ngại gian truân và từ đó có
được niềm tin lành mạnh ở con người... Những ngày cuối đời, bà cụ già yếu, tàn
tật tưởng như mẹ dựa vào con. Bây giờ mẹ mất, bà mới cảm thấy mẹ chính là chỗ
dựa thật sự của bà. “Tuổi già hạt lệ như sương!”, bà không còn nước mắt
để khóc. Bà thẫn thờ, nhiều lúc thấy người lâng lâng, chơi vơi như muốn bay vào
thinh không tìm mẹ… Nhưng cuộc đời còn níu kéo bà. Bà muốn giằng giẫy thoát ra
mà không được… Bà con nặng nợ với đời!
Nén nhang trên bàn thờ tỏa ra một tia
khói thẳng lên cao rồi lan ra thành những làn khói mù mờ và tan biến đi dưới
lớp ngói rêu phong của căn nhà cổ. Không gian tĩnh lặng. Bà đứng rất lâu như
một pho tượng đá, mắt bà không chớp hướng lên bàn thờ, đôi môi mấp máy thì
thầm, nghe văng vẳng tiếng gọi mơ hồ: “Mẹ ơi! Mẹ ở đâu?!”... Lúc nào bà cũng
cảm thấy như mẹ ở đâu đây. Bà không còn thấy mẹ nhưng mẹ vẫn âu yếm nhìn bà.
Khi bà sinh ra thì cha đã không còn. Với bà, cha là ảo ảnh và mẹ là hiện hữu.
Mẹ là cái gạch nối với cha. Nay mẹ về bên đó, cái gạch nối ấy như đậm nét
hơn...
Bà nhìn ra ngõ, người người tấp nập lại
qua với muôn dáng vẻ. Bà thấy họ gần gũi mà xa lạ! Giữa họ với bà có gì ràng
buộc?... Bà giật mình nhớ tới thằng Út Sọ Dừa! Lâu nay nó biến đi đâu? Ngày bà
già mất cũng không thấy nó! Tự dưng lòng bà dâng lên lòng thương cảm: “Tội
nghiệp thằng bé, nó không biết mẹ là ai! Cái thằng đàn ông điên khùng ấy có
phải là cha nó?”… Bà thấy nhớ nó cồn cào. Lòng bà nôn nao như có ai hối thúc…
Bà đứng dậy, đóng cửa và đi nhanh vào cuối xóm...
Cái nhà ấy đây rồi. Cái cửa không cánh
mở toang lộ một khoảng ánh sáng nhờ nhờ như tên một mắt trợn trừng! Bà bước vào
căn nhà ẩm mốc. Trên cái giường xộc xệch, chiếu đệm xô lệch, rách nát, một
người đàn ông nằm nghiêng sấp mặt xuống giường, một chân còn chơi vơi chưa chạm
đất. Y nằm đó như một cái xác không hồn. Bà lắc đầu chép miệng định quay ra
nhưng cảm thấy thương hại, bà cúi xuống nâng chân hắn đặt lên giường. Người đàn
ông lật ngửa, chân tay dang rộng, ngực bụng phanh trần nham nhúa, miệng y phát
ra tiếng khò... khò... vừa ngáy vừa rên! Bà muốn phủ lên người nó một tấm mền
nhưng nhìn khắp cái giường trống không, bà đành bước ra… Trong tiếng thở dài,
nghe thấy bà than thở:
- Mới tí tuổi đầu mà sao cực quá, con
ơi!
Sau dãy nhà ổ chuột đó là một con kênh.
Cả chục năm nay bà không có việc gì bước tới chốn này. Con kênh tuổi thơ của bà
đây, ngày xưa nó bao la trong mát với cây cầu tre dài lắc lẻo vắt qua, bây giờ
nó chỉ còn là dòng nước chảy lờ đờ đen đặc, dập dềnh rác rến. Đời người ngắn
quá mà bao vật đổi sao dời! Ngày xưa cảnh đẹp, người hiền. Bây giờ làm sao...!
Quay về mái nhà xưa, bước chân bà nằng nặng... Lòng bà xót xa cho thằng bé đang
tuổi ấu thơ như bà hồi đó... Mấy giọt nước mắt tuôn ra từ đôi mắt già khô cạn.
Bà thương nhớ mẹ? Hay bà thương thằng bé?...
Trời tối lâu rồi… Bà Hai dọn dẹp, nhang
đèn. Quanh quẩn vào ra không biết gì, bà ngồi thẫn thờ nhìn ra bóng đêm. Lòng
bà quạnh hiu. Cánh cổng ngoài rít lên tiếng kèn kẹt của ổ bản lề hoen rỉ. Có ai
vô nhà? Bà lặng thinh. Từ trong bóng tối ló dần ra trước khoảng sáng của ánh
đèn hắt lên hè, một cái đầu to bù xù như cái sọ dừa quen huộc, đôi mắt to tròn
mở rộng vừa u buồn vừa mừng rỡ nhìn bà. Bà thấy tim mình đập rộn ràng, người bà
ấm lại. Bà bước mau ra cửa, nắm tay thằng Út kéo nó vô nhà:
- Bấy lâu nay con đi đâu, Út?
Thằng Út
rụt rè bước theo bà, một tay lúng túng túm vạt áo phồng phồng bên trong.
Bà phụ nó lôi ra một… gói bánh. Nó ngập ngừng nhìn lên bàn thờ:
- Con cúng Bà Hai!
- Trời đất! Tiền đâu con mua? Bà Hai
hiểu lòng con là được! – Bà trân trọng đặt gói bánh vào một cái đĩa trên bàn
thờ. Bà châm một nén nhang rồi nói:
- Cố ơi! Thằng Út Sọ Dừa nó về viếng cố
đây nè!
Bà đưa nén nhang cho thằng Út. Nó lóng
ngóng cầm nén nhang trong tay. Nó ngước nhìn bà Hai rồi nhìn lên bàn thờ... Nó
cúi đầu xuống, cái đầu nó mỗi lúc lại cúi xuống thấp hơn và từ đôi mắt sáng
trong hiu hắt buồn của nó lăn ra những giọt lệ trong suốt. Bà Hai nghẹn ngào
cầm nén nhang từ tay nó cắm lên bát hương rồi kéo nó vào lòng:
- Con ở đâu về đây? Đã ăn uống gì chưa?
Thằng bé gục đầu vào lòng bà. Lần đầu
tiên trong đời, nó được gục đầu vào lòng một người thực sự yêu thương nó. Từ
lâu nó mến bà Hai nhưng chưa bao giờ nó dám nghĩ tới một ngày như thế. Bà là mẹ
hay là nội, ngoại gì cũng được nhưng bà mãi là bà “Hai” của nó. Nước mắt nó cứ
túa trào ra ướt đẫm vạt áo bà...
Bà cho nó ăn uống no nê... Nằm trên bộ
ngựa, gối đầu vào lòng bà, nó kể cho bà nghe những ngày nó lang thang, hoang
bụi. Nó kể rất hồn nhiên, cũng chẳng có chuyện gì vui, chẳng có chuyện gì buồn.
Tất cả những người đi qua đời nó, đâu có ai thương nó và nó cũng chẳng thể đòi
hỏi ở họ điều gì. Nó như một cây hoang dại sống giữa thiên nhiên, trân mình
chịu nắng táp mưa sa... Mắt nó díp lại lúc nào và nó ngủ thiếp đi.
Bà Hai ngồi yên một tư thế, tránh lay
động đến giấc ngủ ngon lành của thằng bé. Lần đầu tiên trong đời, nó được nằm
trên một cái giường mát như thế! Cũng là lần đầu tiên bà thấy nó cười, nét cười
thỏa mãn tỏa sáng của trẻ thơ! Có lẽ trong mơ nó đang gặp một bà tiên tóc bạc
phơ phơ, nét mặt hiền hậu, lời nói dịu dàng, cử chỉ ân tình đang vỗ về, chăm
sóc nó... Bà Hai sẽ nâng đầu nó đặt qua chiếc gối. Nó giật mình nắm chặt tay bà
và kêu rên đau đớn:
- Hai ơi! – Nó sợ bà tiên đi mất!
Bà Hai cúi xuống nhìn thằng bé ngây thơ tội
nghiệp. Bà vuốt ve lên người nó, nói lời an ủi:
- Cứ ngủ đi con!
Thằng Sọ Dừa quen dậy sớm. Khi bà Hai
lục tục cho buổi bán hàng sớm mai thì nó cũng dậy lẩn quẩn bên bà. Lâu lâu nó
hỏi bà một câu ngây ngô:
- Hai ơi! Người ta mất mẹ thì buồn lắm
sao?
- Ừa, vì ở trên đời này chẳng có ai
thương mình bằng mẹ!
Nó nghi ngờ:
- Thật vậy không Hai?
Bà càng thêm xót xa cho nó. Nó choàng
vai bà và ghé sát bên tai nó hỏi:
- Hai có thương Út thiệt hôn?
Bà quay qua nhìn nó, dịu dàng âu yếm:
- Thiệt! Nhưng con phải nghe lời ta mới
được!
Nó gật đầu, ôm chặt vai bà, yêu thương,
tin tưởng...
Thằng Út Sọ Dừa từ đó ở với Bà Hai, như
hai mẹ con, như hai bà cháu. Nó lăng xăng giúp bà những việc lặt vặt trong nhà.
Tối tối nó lại rủ đám bạn bè tới nhà theo lớp học tình thương. Căn nhà lại ấm
lên với những tiếng học ê a và rộn ràng tiếng cười trong trẻo hồn nhiên của bầy
con trẻ. Dăm ba ngày bà lại bảo nó đem cho cha nó tô canh, tô cơm còn nóng. Lúc
đầu nó không chịu, bà ngon ngọt dỗ mãi mà nó vẫn lì ra. Sau bà sẵng giọng:
- Vậy con đã hứa với ta thế nào?
Rồi bà dịu lại:
- Dù là chẳng có tình nhưng đã ở với
nhau một ngày cũng là nên nghĩa. Phải biết thương người như thể thương thân,
con à!
Những lần đầu, nó đi thăm dò trước. Chỉ
khi nào “người đó” vắng nhà hay đang lăn lóc ngủ say, nó mới dám lấm lét bước
vô, đặt vội mấy thứ lên giường rồi vọt chạy ra, hệt như ma đuổi!
Người đàn ông đó xưa nay chẳng hề quan
tâm đến thằng Út Sọ Dừa. Thằng bé đi về lúc nào tùy ý, thậm chí không về cũng
được, mặc cho nó sống chết ra sao! Mấy lần y tình cờ thấy nó loanh quanh đầu
hẻm, y chẳng cần hỏi nó làm chi cho thêm vướng bận, vả thằng Sọ Dừa cũng lỉnh
nhanh không muốn dây dưa đến hắn làm gì. Bây giờ đột nhiên thấy chuyện lạ lùng,
cái đầu óc đặc quánh của y đâu có biết gì những chuyện cổ tích mà tơ tưởng đến
Tiên với Phật. Nhưng y cũng chẳng tin chuyện có ma! Làm gì có ma! Người ma thì
có! Chính y đây! Và cả cái xóm này thiếu gì ma! Đời này thiếu gì ma! Mà ở quanh
đây ai đã xử tốt với y bao giờ? Người nào gặp y cũng đều lánh vội như lánh
thằng cùi! Chỉ có mấy “con đĩ ngựa” lâu
lâu về đây tá túc cũng chẳng moi ở y được cái gì, mà y cũng chẳng thèm moi cái
gì của chúng. Bọn bay đến nhà tao thì phải ngủ với tao, không thì cút xéo, có
vậy thôi! Ngay cả cái cõi đời này nữa, có ai xót thương y! Cha mẹ, làng quê
không chấp nhận y… thì y đã bỏ xứ ra đi, cần gì! Đầu đội trời, chân đạp đất, y
ở đâu chẳng được.Y vỗ ngực:
- Tao đây, “tay làm hàm nhai, tay
quai miệng trễ”, tao đếch thèm nhờ cậy thằng nào, ngay cả thằng sinh con đẻ
ra tao!
Nhưng y làm gì, chẳng ai cần biết, song
rõ ràng là y nhai thì ít mà uống thì nhiều nên y đã thành con “ma men” thật sự
như mọi người thường gọi như thế để ám chỉ y...
Hắn tỉnh dậy sau một chầu say tới bến… Y
thấy ruột cồn cào, chân tay bủn rủn, rã rời. Cổ y khô rát. Y ngồi dậy mà người
thấy nôn nao, nóc nhà với đất đảo điên quay cuồng. Y nhìn một góc đầu giường
thấy mấy cái tô. A! Nó đây rồi! Y bò tới. Trời! Tô canh đầy ắp, còn hơi ấm. Y
đưa lên miệng nốc xùm xụp một hơi. Chà! Quá đã! Trời đất như dừng lại, trên
dưới đâu đấy rõ ràng. Y lấy tay vét hết những cọng rau lẫn thịt cho vào miệng.
Cái bao tử thấy êm êm. Y quơ lấy tô cơm, trên có miếng tàu hủ kho và mấy trái
đậu bắp. Chà! Ngon quá là ngon! Ngon hơn cả cơm bụi hạng nhất y vẫn từng ăn.
Muỗng, nĩa làm gì! Y quăng xuống đất và dùng tay cho gọn. Bụng đã no nê, y vơ
cái can đầy nước lã để ở góc giường và làm liền một hơi…
Bây giờ y đã tỉnh hẳn. Đầu óc y thấy
sáng láng ra. Ai lo cho hắn thế này? Y lờ mờ cảm thấy thằng Sọ Dừa quẩn quanh ở
quán bà Hai Tốt ắt có liên quan đến chuyện này. Phải phăng cho rõ ra mới được!
Y bước ra khỏi cửa. Trời xế chiều. Gió từ phía sông thổi tới vừa hôi vừa mát. Y
đứng giữa đường. Mấy người đi xe máy dẹp qua bên tránh y. Một thằng bé mắt ngó
đi đâu chạm vào người y. Y nắm chặt tay giữ nó lại. Nó hoảng hồn rãy không ra.
Y ngồi thụp xuống, hai tay giữ chặt thằng bé, hỏi nó vẻ hiền lành:
- Này mày biết thằng Sọ Dừa nhà tao bấy
lâu nó ở đâu?
Thằng bé vừa cười, vừa gỡ tay y và trả
lời như trách:
- Ông này kỳ! Lâu nay nó ở quán bà Hai
Tốt. Bả chả thường biểu nó mang cơm cho ông ăn mà sao ông không biết?!
Nó vùng mạnh thoát khỏi tay y và chạy
vọt đi…
Y đứng lên tần ngần. Đột nhiên y ngẩng
mặt nhìn trời. Lần đầu tiên ở đây người ta thấy y ngẩng mặt lên và chính y cũng
không nhớ đã từ bao lâu y không nhìn lên trời nữa! Giờ đây y thấy lạ: trời cao
quá và xanh quá, có vài ngôi sao nhỏ mờ mờ nhấp nháy. Đột nhiên y nghĩ: “Chắc
là trên ấy có Trời!” và y quay bước vào nhà…
Qua cái cửa lúc nào cũng mở toang, trong nhà lờ mờ tăm tối. Nhìn mấy cái tô cái
đĩa lỏng chỏng lơ chơ trên giường, y đứng lặng hồi lâu, rồi bỗng y quỳ thụp
xuống, hai tay chắp lại, cúi đầu vái lạy, miệng thốt lên:
- Con lạy Bà! Con kính lạy hai Bà! Sao
các bà không đẻ ra con?
Y gục đầu xuống giường khóc nấc lên tức
tưởi.
Tiếng y khóc vừa như muốn rống lên, vừa
như nghẹn lại hệt như con heo bị bịt mũi mồm khi người ta chọc tiết. Mấy đứa
nhỏ thấy chuyện kỳ lạ đứng bu ngoài cửa nhìn vào. Chúng vừa toác miệng ra cười
vừa kháo nhau:
- Ổng nổi cơn khùng đấy!
Lớp học vừa tan, thằng Sọ Dừa còn nằm bò
trên bộ ngựa loay hoay làm lại mấy phép tính cho rành, bà Hai dọn dẹp nhang đèn
như thường lệ. Bỗng có tiếng động kỳ lạ, bà và thằng bé ngước nhìn lên. Mặt
thằng bé tái xanh và nó chạy tới níu áo núp sau bà! Bà bình tĩnh nhìn người
khách lạ: Y chính là cha của thằng Út Sọ Dừa! Hai nách y cặp hai chai rượu, hai
bàn tay y đan móc vào nhau, đầu y cúi xuống vẻ cung kính, mặt y không có vẻ gì
dữ tợn. Bà điềm tĩnh hỏi:
- Thằng Hai! Bây tới đây có việc chi?
Y đặt hai chai rượu lên bàn nói giọng lễ
phép:
- Con xin bà cho con được viếng bà Hai!
– Một tay y giơ lên chai rượu, một tay chỉ chai kia:
- Chai này con để cúng bà Hai. Còn chai
này là để... cúng con! – y cười làm lành.
Bà Hai đỡ chai rượu đặt lên bàn thờ,
thắp nén nhang và đưa cho hắn. Hắn chắp hai tay giơ cao nén nhang trên cái đầu cúi
gục, hắn nói vẻ tôn kính thật lòng:
- Ngày Bà về Trời, con không dám đến
viếng vong linh Bà… sợ làm dơ dáy chốn linh thiêng! Bà ơi! Bà tha tội cho con
vì con được sống gần Bà mà không đáng sợi lông, sợi tóc của Bà! – cái đầu y gật
gật rung rung…
Khi y cầm nén nhang cắm trên bát hương,
dưới ánh đèn nhạt nhạt thấy y đầm đìa nước mắt. Thằng Út ngơ ngác nhìn bà Hai,
nhìn người đàn ông vừa gần gũi vừa xa lạ ấy mà không hiểu ra sao!
Y bước ra gần cửa, hai tay chắp lại, đầu
cúi xuống, hướng về phía bà Hai, y nói:
- Con xin mẹ tha thứ cho con. Con là
thằng bỏ đi, chẳng đáng làm người! – y chỉ vào thằng Út và nói với bà:
- Con cũng không biết thằng này có phải
là con của con không nữa! Con chẳng ra gì nên con không muốn nó ở với con! Nó
được nương tựa cửa bà là phước cho cho nó và con đội ơn bà! – đầu y cúi xuống
thấp hơn, vẻ cung kính cầu xin thật sự…
Y cầm chai rượu trên bàn định quay ra.
Bà Hai cầm chai rượu và gói bánh trên bàn thờ đưa cho y và nói:
- Anh mang về nhà lộc của Bà!
Y cắp hai chai rượu vào hai bên nách,
hai tay nâng gói bánh trước ngực, lễ phép quay ra. Dường như lúc này thằng Út
mới yên lòng, nó cầm hai tay bà Hai lắc lắc:
- Hai đưa thêm chai rượu là ổng nốc hết
ổng chết đó, Hai ớ! Ông khùng khùng điên điên lắm!
Bà từ tốn nói:
- Nó khùng có lúc thôi con ạ! Người ta
mỗi người một cảnh. Đã chẳng ai thương xót gì mình thì thôi có cần chi!
Trên đường về nhà, lòng y vừa mừng vừa
tủi. Lâu lắm rồi, hôm nay y mới lờ mờ cảm thấy dường như vừa làm được một việc
gì đó đàng hoàng, tử tế. Y hài lòng về mình, đặt hai chai rượu và gói bánh trên
giường, y ngồi xuống và tự thưởng cho mình. Y làm mấy ly liền! Rượu hôm nay
ngon thế! Đầu óc thấy lâng lâng! Y nghĩ: “Đời vẫn chưa hết người tử tế và mình
còn biết tử tế với đời!”. Y thưởng cho đời, y thưởng cho mình liên tục. Rồi y
lẫn lộn giữa đời với y:
- Đời là cái quái gì? Mình là cái quái
gì? – y nâng ly rượu:
- Đời đây! – y uống vào cái ực:
- Tao đây! – y cầm chai rượu giơ lên,
cười thoả mãn:
- Mày làm sao say? hay mày làm tao
sướng? Sướng hay say cũng không biết nữa! Đã thế tao phải uống cho say! Say để
mà quên!
Một chai đã lăn lóc trên giường. Một
chai đã thấy vơi vơi. Bây giờ thì y đã nhớ nhớ quên quên:
- Cha mẹ là cái thằng con chó đẻ nào?
mình đâu cần nhớ! Nó để mình bù lăn bù lóc giữa đời!… Mà đời đểu thật: lừa lọc!
giật giọc! hiếp đáp! giả nghĩa giả nhân!… Người với người như sói!…
Đến khi cả chai rượu thứ hai cùng lăn
lóc trên giường thì y cũng thật là say và cũng thật là quên! Hai tay y quơ hai
cái chai và nằm vật ngửa ra giường… Y còn kịp nhớ một điều chính xác: có ba cái
chai lăn lóc trên giường, hai chai cạn khô và một chai đầy rượu! Đầy quá thì nó
phải trào ra! Y nôn thốc nôn tháo tung toé ra giường… Rồi y thấy ruột xót như
bào và khô rang cái họng… Y ngồi dậy, quờ quạng bước đi… Y đá vào cái vách tôn
kêu rổn rảng… Y lùi lại… Rồi y lại đá! Đến khi không có cái gì cản bước y đi,
thế là y đã qua cửa và bước ra sân… Cha chả là mát nhưng cổ vẫn khát! Phải tìm
nước uống… Y khật khưỡng bước đi…
Trời khuya lắm rồi, cũng chỉ mấy anh
nhậu xỉn hoặc đi “cua gái” trở về mới lần mò trong đêm như vậy. Những người đó
thì chẳng ai thèm để ý đến ai! Bây giờ các bộ phận trên cơ thể y hoạt động hoàn
toàn tự phát, không còn do cái đầu điều phối: Mắt mở mà chẳng nhìn rõ cái gì.
Tai chỉ nghe độc cái giọng lè nhè của hắn. Miệng la lảm nhảm như chỉ là để hà
bớt hơi ra cho đỡ nóng trong người. Tay quờ
quạng lung tung. Chân lảo đảo đi về đâu cũng được... Thế là hai cái chân liêu
xiêu đưa y ngập dần xuống dòng sông cuối xóm…
Cảm giác mát lạnh làm y mang máng nhớ
đến dòng kênh, hứng chí, miệng y lè nhè buột ra câu ca cổ: “Sông dài… cá lội
biệt tăm… Sông dơ cá có còn đâu… mà mò!”… Y cười khặc khặc:
- Không mò được cá thì uống cho đỡ khát!
– y loáng thoáng nhớ đến dòng nước hôi đen, nhưng y triết lý:
- Ôi dơ thì dơ, cần cái cóc khô
gì!… Mà sông ơi, mày với tao đứa nào dơ
hơn? Mày làm tao dơ hay tao làm dơ mày? Cả mày với tao đều dơ thì uống vào đâu
có sợ gì! – y vục đầu xuống dòng kênh
hôi hám...
Mấy ngày sau, người ta tình cờ phát hiện
ra xác y kẹt ở bờ rau muống! Bà Hai Tốt đóng góp tích cực vào việc quyên góp từ
thiện để ma chay cho người vô chủ. Đám tang y chỉ có bốn người: ông đại diện tổ
dân phố, anh cảnh sát khu vực, bà Hai Tốt và thằng Út Sọ Dừa – Bà Hai đặt trên
đầu nó cái nón tang rơm. Lúc nào nó cũng nắm tay bà và đi theo bà từng bước...
Tôi đã nhiều lần
đến thăm bà Hai Tốt để tìm hiểu về lớp học tình thương.
Thằng Út Sọ Dừa là đứa trẻ dễ thương,
mặt mày sáng sủa, đôi mắt tinh nhanh nhưng nó có vẻ nhút nhát, ít muốn tiếp xúc
với ai. Hỏi về việc học của nó, bà Hai cho biết: Nó học cũng tạm được, nếu xin
ngang vào trường thì khó vì nó đâu có học bạ, chứng chỉ gì đâu! Để bà dạy kèm
cho nó mau qua tiểu học, chừng nào lên lớp Sáu sẽ xin vào “Trường Bổ túc”. Tôi
hỏi bà có đặt cho nó cái tên nào vì nó ngày một lớn? bà cũng nghĩ rồi:
- Thôi, cứ đặt tên cho nó là Tốt vậy… Ở
đời sống để thành người tốt đâu có dễ!
Muốn cho thằng Út nhập vào hộ khẩu với
bà còn là chuyện khó vì nó chẳng phải là cháu, chẳng phải là con. Có người gợi
ý cho bà làm thủ tục nhận con nuôi, bà nói:
- Nhận nó làm con nuôi là bắt nó phải
trả nghĩa cho mình! Chỉ làm một việc nhỏ mà bắt người khác phải ràng buộc vào
mình lại là điều vô nghĩa! Coi như tôi giúp đỡ một người gặp khó!
Theo đà đô thị hoá, đường xá rộng mở,
phố phường nhà cửa khang trang. Kế bên nhà bà là khu siêu thị. Ngôi nhà cũ kỹ
nhỏ nhoi có sân trước, vườn sau rộng mấy trăm mét vuông, vẫn một hàng ruối già
lơ thơ xơ xác bao quanh, chẳng khác gì bà lão già nua cổ lỗ đứng bên đàn thanh
niên nam nữ sinh đẹp, trang phục tân kỳ. Tôi hỏi lửng bà:
- Đất nhà khu này cao giá lắm, dì Hai?
Hiểu ý tôi, bà trút niềm tâm sự:
- Tôi sống vậy được rồi! Cả đời làm
lụng, tằn tiện cũng đủ lo cho mình sống chết chẳng phiền ai. Mồ hôi công sức
của ông bà, cha mẹ không dưng qua tay người khác xót xa lắm chớ! Tôi sẽ để lại
di chúc khi tôi qua đời, tôi hiến cho Nhà nước lấy chỗ này làm trường học hoặc
nhà nuôi trẻ mồ côi. Tôi chỉ lo một điều: “Liệu người ta có làm đúng như vậy
chăng? Kẻo tội nghiệp ông bà, cha mẹ tôi lắm!”
Tôi rất xúc động và khâm phục bà nhưng
vẫn thấy trong lòng phân vân. Tôi thành kính cầu chúc bà đại thọ và tôi cũng mơ
tới một ngày chính tại nơi đây sẽ là một trường học đẹp đẽ, khang trang vẫn giữ
y nguyên cái tên dân dã mà cao quý: “Trường Bà Hai Tốt”...
Tháng 07 năm 1998
Tuần báo Văn
nghệ Hội Nhà văn VIỆT NAM
Số
35 (2067) – ngày 28/8/1999
No comments:
Post a Comment